Biện pháp Hướng dẫn học sinh thảo luận nhóm trong giờ Luyện tập lớp 3

docx 23 trang Thanh Hà 04/02/2026 160
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Biện pháp Hướng dẫn học sinh thảo luận nhóm trong giờ Luyện tập lớp 3", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxbien_phap_huong_dan_hoc_sinh_thao_luan_nhom_trong_gio_luyen.docx

Nội dung tài liệu: Biện pháp Hướng dẫn học sinh thảo luận nhóm trong giờ Luyện tập lớp 3

  1. PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN TIÊN LÃNG TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐOÀN LẬP HỘI THI GIÁO VIÊN DẠY GIỎI CẤP TRƯỜNG NĂM HỌC 2024 – 2025 BÁO CÁO BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC HƯỚNG DẪN HỌC SINH THẢO LUẬN NHÓM TRONG GIỜ LUYỆN TẬP LỚP 3 TÁC GIẢ: NGUYỄN THỊ KIM PHƯỢNG Giáo viên trường: Tiểu học Đoàn Lập. Huyện: Tiên Lãng Tổ chuyên môn: 3 Tiên Lãng, tháng 10 năm 2024
  2. MỤC LỤC STT Nội dung Trang I. Mở đầu 1.Lí do lựa chọn biện pháp 3 2.Đối tượng áp dụng 3 II.Nội dung 1.Mục tiêu của biện pháp 4 2.Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn để xây dựng biện pháp 2.1 Cơ sở lí luận 4 2.2. Cơ sở thực tiễn 5 3.Nội dung biện pháp 6- 12 4.Cách thức/ quy trình thực hiện biện pháp 12 III.Thực nghiệm biện 1. Đối tượng, nội dung, phương pháp thực nghiệm 13 pháp tại đơn vị 2. Tiến trình thực nghiệm 14 3. Đánh giá kết quả thực nghiệm 15 IV. Kết luận, đề xuất 1.Kết luận 16 2. Đề xuất 17
  3. I. MỞ ĐẦU 1- Lý do lựa chọn biện pháp: Trong Sách giáo khoa Tiếng Việt 3 nội dung dạy về từ ngữ và nội dung dạy về ngữ pháp được tích hợp lại trong một cái tên chung: Luyện tập và được dạy 1tiết/tuần. Tên gọi Luyện tập đã thể hiện được tính tổng hợp, tính thực hành rất rõ. Mục tiêu của phân môn Luyện tập nhằm cung cấp những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt bằng con đường quy nạp và rèn luyện kĩ năng dùng từ, đặt câu (nói, viết), kĩ năng đọc cho học sinh. Thông qua việc giải quyết các bài tập thực hành phong phú, đa dạng về kiểu loại, học sinh được cung cấp những hiểu biết sơ giản về từ và câu, rèn cho học sinh kĩ năng dùng từ đặt câu và sử dụng các kiểu câu. Trong một giờ Luyện tập, học sinh phải tự mình tìm lấy tri thức thông qua việc giải quyết các bài tập dưới sự hướng dẫn, tổ chức của giáo viên. Mặt khác, trong Sách giáo khoa không có phần bài học được đóng khung hay in đậm cho học sinh đọc, ghi nhớ. Chính vì vậy mà dạy Luyện tập, giáo viên cần linh động lựa chọn phương pháp và hình thức tổ chức sao cho hợp lý. Một trong những hình thức dạy học có hiệu quả là hình thức thảo luận thông qua hợp tác nhóm. Các đề tài đưa ra thảo luận phải có tác dụng kích thích sự suy nghĩ, tò mò của các em; cần đảm bảo học sinh hiểu những gì mình được học thông qua thảo luận và khuyến khích động viên học sinh mạnh dạn tham gia thảo luận. Vấn đề đặt ra: Người giáo viên hướng dẫn học sinh thảo luận như thế nào để đạt hiệu quả như mong muốn? Bởi những lí do trên nên tôi mạnh dạn thực hiện, vận dụng một số biện pháp “Hướng dẫn học sinh thảo luận nhóm trong giờ Luyện tập lớp 3” mà tôi đã đưa vào thực nghiệm có hiệu quả. 2. Đối tượng áp dụng: Áp dụng trong phân môn Luyện từ và câu của môn Tiếng Việt cho học sinh khối lớp 3.
  4. II. NỘI DUNG BIỆN PHÁP 1. Mục tiêu của biện pháp. Giúp giáo viên dạy tốt phân môn Luyện tập và học sinh học tốt phân môn này. Dạy Luyện tập theo hình thức này nhằm hình thành ở học sinh khả năng giao tiếp, đặc biệt là giao tiếp bằng ngôn ngữ nói, khả năng hợp tác, khả năng thích ứng và khả năng độc lập suy nghĩ. Khi tổ chức dạy học phân môn Luyện tập bằng phương pháp hợp tác nhóm, giáo viên cũng có cơ hội tận dụng những ý kiến và kinh nghiệm của người học. Học sinh khi tham gia thảo luận nhóm, hơn hẳn khi làm việc độc lập, các em được bàn bạc, đưa ra ý kiến cá nhân của mình, vì thế các em dễ dàng nghĩ ra cách làm và đáp án của bài tập. Từ đó phát huy năng lực tự học, tự giải quyết vấn đề cho học sinh. 2. Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn để xây dựng biện pháp. 2.1. Cơ sở lý luận: Mỗi chúng ta ai cũng tự nhận thấy rằng ngôn ngữ hết sức phong phú và đa dạng. Con người ngay từ khi sinh ra đến tuổi đi học đều hình thành cho mình vốn ngôn từ, quy tắc giao tiếp nhất định. Bởi vậy, để tăng nhanh được vốn từ, để chính xác hóa nội dung ngữ nghĩa của từ cũng như thúc đẩy việc hình thành kĩ năng giao tiếp diễn ra một cách nhanh chóng, thuận lợi không thể không chú ý đến việc rèn luyện, trau dồi cho các em vốn kiến thức về từ ngữ qua phân môn Luyện từ và câu. Phân môn Luyện từ và câu giúp học sinh: Mở rộng hệ thống hóa vốn từ và cung cấp những hiểu biết sơ giản về từ loại và về kiểu cấu tạo của các từ thông qua vốn từ các em sẵn có và các từ mới học. Rèn luyện cho học sinh kĩ năng dùng từ đặt câu và sử dụng các dấu câu; bồi dưỡng cho học sinh thói quen dùng từ đúng, nói và viết thành câu; cung cấp những mẫu câu cần thiết đế học sinh vận dụng trong giao tiếp và học tập; rèn luyện ý thức sử dụng Tiếng Việt có văn hóa trong giao tiếp. Với mục đích như vậy, việc dạy học Luyện từ và câu chiếm vị trí hết sức quan trọng trong nhà trường cũng như cung cấp cho các em những tri thức cần thiết để tìm hiểu và học tốt các môn học khác. 2.2. Cơ sở thực tiễn: Năm học này, về chương trình: các em học sinh lớp 3 thực hiện theo chương trình Giáo dục Phổ thông 2018 theo Quyết định số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 15 tháng 02 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo. Về nhận xét, đánh giá:
  5. Thực hiện việc nhận xét, đánh giá học sinh theo Thông tư 27/2020/TT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo. Đối với học sinh lớp 3 do vốn sống, vốn từ của các em còn quá ít, mà chúng ta đã biết từ ngữ, ngữ pháp trong tiếng Việt rất phong phú, như nhiều người thường nói “Phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam”. Bởi vậy làm cho các em hiểu đúng đắn về từ, câu để có thể phát triển một cách đồng đều về mọi mặt là một việc không dễ. Chính vì nhận thức trên, bản thân tôi nghĩ rằng muốn học sinh học tốt phân môn Luyện tập giai đọan đầu ở bậc tiểu học, không gì hơn phải thiết kế và giảng dạy sao cho tiết học diễn ra nhẹ nhàng, tự nhiên, hiệu quả cao mà vẫn đảm bảo được nguyên tắc học sinh là nhân vật trung tâm, phát huy được tính chủ động tích cực của từng học sinh, của tập thể học sinh trong giờ học. * Thực trạng: Thực tế, khi thực hiện dạy và học phân môn Luyện tập tại trường Tiểu học Đoàn Lập nơi tôi đang công tác, có một số thuận lợi sau: * Đối với giáo viên: - Trang thiết bị, đồ dùng dạy học tương đối đầy đủ và hiện đại đảm bảo phục vụ cho hoạt động giảng dạy của GV. - GV được tập huấn nắm được nội dung, phương pháp dạy học, biết bám sát mục tiêu để lập kế hoạch bài dạy. Nhiều GV đã tổ chức được các hoạt động dạy - học hiệu quả. * Đối với học sinh: - Đa số học sinh của trường các em có ý thức học tập tốt. Học sinh đều chăm ngoan, ham tìm hiểu và có thái độ chủ động tích cực trong học tập. - Đến lớp 3, kĩ năng đọc viết của HS tương đối vững chắc nên việc dạy các kiểu câu theo mẫu khá thuận lợi. Bên cạnh những mặt thuận lợi thì khi triển khai các biện pháp, tôi cũng gặp một số khó khăn: * Đối với giáo viên: Qua thực tế giảng dạy tôi thấy Luyện tập là một phân môn khó dạy. Cụ thể, qua các đợt thi đua của các năm học trước, giáo viên trường tôi đăng kí dạy tốt rất nổi nhưng hầu như không có giáo viên đăng kí dạy phân môn Luyện từ cà câu. Học kì I vừa qua, trong đợt thi đua dạy tốt chào mừng ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11, tổng số tiết dạy tốt là 25 nhưng chỉ có hai tiết Luyện từ và câu. Có khó khăn và trở ngại này là do nội dung dạy học Luyện tập ở lớp 3 được xây dựng qua một hệ thống bài tập, không có phần lý thuyết. Các bài dạy không theo một khuôn
  6. mẫu nhất định mà tùy theo từng tiết học, giáo viên phải tự nghiên cứu để tự tìm ra cách dạy hợp lý. Có như vậy thì các tiết dạy mới không rời rạc, nhàm chán * Đối với học sinh: - Đối với HS lớp 3 khả năng nhớ, hiểu và vận dụng kiến thức trong quá trình học tập còn yếu. - Các từ cần giải nghĩa đa số là từ Hán Việt nên học sinh khó hiểu, khó giải nghĩa. - Các từ, các thành ngữ, tục ngữ cần giải nghĩa, cần tìm có nghĩa gần giống nhau, khiến cho học sinh khó phân biệt nghĩa của chúng. Mặt khác, đúng ra, mỗi học sinh phải có phương pháp tự học trên sách giáo khoa. Thông qua việc giải quyết các bài tập, các em phải tự phát hiện, tự khám phá, tự chiếm lĩnh kiến thức và tự đánh giá, kiểm tra trên cơ sở tự học và hợp tác nhóm. Trong hợp tác nhóm, mọi ý tưởng của học sinh đều được tôn trọng, học sinh sẽ bàn bạc, trao đổi về những kết quả của chính bản thân, đúc kết qua quan sát, qua thực hành và bài học chính là do các em tìm ra trên cơ sở thầy uốn nắn, hỗ trợ hoặc bổ sung cho hoàn chỉnh. Các em sẽ không ngỡ ngàng khi gặp các dạng bài tập khác với dạng bài tập đã học. Nhưng thực tế các em chưa làm được điều đó dẫn đến kết quả học tập chưa cao. Để thay đổi hiện trạng trên, tôi mạnh dạn nghiên cứu một số biện pháp hướng dẫn học sinh thảo luận đối với từng tiết học, từng bài tập để làm tăng hứng thú học tập, phát huy được tính chủ động, sáng tạo của học sinh. 3. Nội dung biện pháp. Sau đây tôi xin trình bày một số biện pháp Hướng dẫn học sinh thảo luận nhóm trong giờ Luyện từ và câu mà bản thân đã áp dụng với học sinh của lớp mình chủ nhiệm: 3.1. Biện pháp 1: Nghiên cứu bài dạy; lựa chọn bài tập cần thảo luận và hình thức thảo luận: Mỗi bài Luyện từ và câu có từ 3 đến 4 bài tập. Giúp học sinh giải quyết các bài tập này như thế nào để các em hứng thú, tích cực hoạt động chiếm lĩnh kiến thức mà bài học muốn cung cấp là cả một nghệ thuật sử dụng phương pháp mới, phương pháp tích cực hóa hoạt động của người học. Với phương pháp này người giáo viên không thể là người thuyết trình cũng không thể làm thay cho học sinh mà đòi hỏi người giáo viên phải nghiên cứu cách thức giúp học sinh tiến hành làm bài tập. Việc này giáo viên phải làm tốt ngay trong quá trình nghiên cứu kế hoạch dạy học. Căn cứ vào yêu cầu, nội dung của từng bài tập, giáo viên xác định rõ yêu cầu cần đạt của từng bài, từ đó lựa chọn cách thức tiến hành phù hợp: Độc lập suy
  7. nghĩ, làm việc cá nhân hay thảo luận nhóm cặp hay thảo luận, bàn bạc trong nhóm bàn. Song dù thảo luận với hình thức nào thì sau cùng cũng vẫn phải tiến hành thảo luận trước lớp để đi đến kiến thức đúng. Ví dụ: Trong tiết Luyện tập Tuần 6 trang 58 Sách Tiếng Việt 3 tập 1: Với mục đích yêu cầu: Mở rộng vốn từ về nhà trường. Nhận biết được câu hỏi trong văn bản cho trước; biết sử dụng dấu chấm hỏi?. Bài Luyện tập này gồm 3 bài tập: Bài tập 1. Tìm tiếp các từ ngữ về nhà trường trong từng nhóm sau: Người học sinh,... Địa điểm cổng trường,... Đồ vật bàn Hoạt động viết,... Bài tập 2. Câu nào dưới đây là câu hỏi? Dựa vào đâu em biết điều đó? a. Em đã làm gì để giúp đỡ mẹ? b. Em đã nhiều lần giúp đỡ mẹ. c. Hôm nay con giặt áo sơ mi và quần áo lót đi nhé! Bài tập 3. Đọc câu chuyện dưới đây và thực hiện yêu cầu: Hộp bút của Na Trong hộp bút bé nhỏ có tiếng lao xao.Na ghé tai nghe, có tiếng bút chì: - Tớ được dùng nhiều nhất nên tớ chỉ còn một mẩu. Có tiếng tẩy đáp lại: - Tớ toàn vụn tẩy vì chữa cho cậu. Tớ quan trọng nhất. Thước kẻ lên tiếng: - Tớ mới quan trọng. Tớ được dùng nhiều đến mức mờ hết cả số. Na bối rối mở hộp bút. Cô bé thầm thì: - Ai cũng quan trọng vì đều là bạn thân của tớ. (Theo An Hạnh) a. Hỏi – đáp về các nhân vật trong câu chuyện trên. M: - Trong hộp bút, ai được dùng nhiều đến mức mờ hết cả số? - Thước kẻ được dùng nhiều đến mức mờ hết cả số. b. Ghi lại 1-2 câu hỏi em và bạn vừa thực hiện ở trên.
  8. Với cấu trúc bài học như vậy mà giáo viên chỉ sử dụng phương pháp hỏi đáp hoặc để học sinh tự suy nghĩ làm bài rồi chữa thì tiết học quả là nhàm chán, căng thẳng với học sinh. Vì vậy ở tiết học này tôi lựa chọn bài tập cần thảo luận và hình thức thảo luận như sau: Bài tập 1: Với bài tập này, ngay từ khi nghiên cứu kế hoạch bài dạy, tôi đã xác định yêu cầu cần đạt của bài là: Mở rộng vốn từ về nhà trường, tìm được các từ về người, địa điểm, đồ vật hoặc hoạt động liên quan đến trường học. Yêu cầu này khó với học sinh nếu làm cá nhân. Để tìm được nhiều từ đúng theo yêu cầu, đúng theo mẫu, các em cần có sự hợp tác của các bạn. Vì vậy, sau khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu yêu cầu, tìm hiểu mẫu, tôi yêu cầu học sinh làm việc theo nhóm sáu: Thảo luận, tìm các từ theo yêu cầu từng phần, viết kết quả thảo luận vào bảng nhóm, thời gian thảo luận là 5 phút. Bài tập 2: Yêu cầu cần cần đạt của bài là: Dấu hiệu nhận biết câu hỏi trong văn bản cho trước? Hs biết câu hỏi dùng để làm gì? Đây là một kiểu câu rất quen thuộc các em đã được học trong chương trình Tiếng Việt 2 và các em đã gặp rất nhiều trong các bài đọc. Vì vậy với những kiến thức nền tảng đã được có tôi cho các em làm việc cá nhân, sau đó nói cho bạn về bài làm của mình Với yêu cầu này, tôi cho học sinh thảo luận nhóm đôi hỏi và trả lời các câu hỏi để tìm đúng các bộ phận trong từng câu. Sau đó, cho học sinh nêu ý kiến theo nhóm. Các nhóm còn lại nhận xét xem nhóm bạn tìm đúng chưa và cuối cùng giáo viên là người chốt ý đúng. Bài tập 3: Yêu cầu cần đạt của bài là: Biết sử dụng dấu chấm hỏi( biết đặt và trả lời câu hỏi) cũng là ôn câu hỏi. Nhưng khác ở bài 2 ở chỗ: Qua bài 2, học sinh nhận biết được câu hỏi trong văn bản cho trước thì bài tập 3 nâng cao mức độ đối với học sinh. Các em sẽ dựa vào văn bản để hỏi- đáp về các nhân vật trong câu chuyện. Vì vậy với những kiến thức nền tảng đã được thực hành ở bài 2, bài tập 3 tôi cho các em làm việc nhóm đôi. Như vậy, trong tiết dạy này, với 3 bài tập tôi sẽ có 3 cách tiến hành khác nhau. Qua quá trình dạy học, tôi nhận thấy: Trong một giờ Luyện tập, học sinh thường gặp khó khăn với dạng bài tập Mở rộng vốn từ do vốn từ của các em chưa phong phú. Mặt khác, các em chưa hiểu rõ nghĩa của các từ. Vì vậy với dạng bài tập này, tôi sẽ chọn cho học sinh thảo luận nhóm 4 hoặc nhóm 6 để các em có thể trợ giúp lẫn nhau. Cũng có thể sau khi thảo luận, tôi cho các em chơi trò chơi dạng Ai nhanh, ai đúng. Còn các bài tập còn lại, tùy vào yêu cầu cần đạt của mỗi bài có
  9. thể cho các em thảo luận nhóm đôi hoặc làm việc cá nhân. Cách làm như vậy giúp cho không khí lớp học sôi nổi hơn, thoải mái hơn không gây áp lực cho học sinh. Song việc lựa chọn bài tập cần thảo luận và hình thức thảo luận mới là một nửa phần việc, còn một nửa phần việc nữa quan trọng và quyết định thành công của giờ học là hướng dẫn học sinh thảo luận như thế nào để đạt kết quả cao nhất. 3.2. Biện pháp 2: Tổ chức hiệu quả các hoạt động thảo luận: 3.2.1 Hướng dẫn học sinh thảo luận trong nhóm. Việc lựa chọn bài tập cần thảo luận và hình thức thảo luận cho từng bài tập là công việc người giáo viên phải làm khi tiến hành soạn bài và thể hiện rõ ràng, cụ thể trong Kế hoạch bài dạy. Còn việc hướng dẫn học sinh tiến hành thảo luận là cả một quá trình xử lí những tình huống cụ thể phức tạp ở trên lớp. Việc đó đòi hỏi người giáo viên phải biết bao quát, quan sát và lắng nghe xem từng nhóm hoạt động như thế nào? Nhóm nào hoạt động tốt thì tuyên dương, động viên kịp thời. Nhóm nào không làm việc thì tìm hiểu lí do, động viên, giúp đỡ các em tích cực hoạt động để đạt kết quả. Một ví dụ nhỏ khi dạy tiết Luyện tập Tuần 5 ở bài tập 1: Tìm những từ ngữ chỉ đặc điểm của con đường đến trường. Tôi yêu cầu các em thảo luận nhóm bàn. Sau một phút thảo luận sôi nổi tôi thấy một, một nhóm ngồi yên lặng. Tìm hiểu thì biết các em còn băn khoăn, chưa tìm được từ ngữ chỉ tên con đường. Tôi gợi ý: Trong bài Tập đọc “Con đường đến trường” có nói đến con đường bạn nhỏ đi học như thế nào? Có em nói: Trong bài “Con đường đến trường ” có nói đến mặt đường mấp mô, lầy lội và trơn trượt. Tôi gợi ý bằng cách chiếu một số hình ảnh về các con đường để học sinh hình dung. Bằng một vài gợi ý giúp các em nhớ lại kiến thức đã học trong các bài tập đọc và khơi gợi vốn sống, vốn hiểu biết còn gọi là kiến thức nền, tôi đã giúp các em tháo gỡ được khó khăn và các em đã tìm được một số từ ngữ chỉ đặc điểm của con đường. Như vậy, khi hướng dẫn học sinh thảo luận nhóm, giáo viên không thể ngồi yên trên ghế hay chỉ quanh quẩn bên bàn, trên bục giảng. Muốn phát huy đúng tác dụng của thảo luận nhóm, người giáo viên sẽ di chuyển đến từng học sinh, từng nhóm để trao đổi, hỗ trợ các em thực hành 3.2.2. Hướng dẫn thảo luận chung:
  10. Sau khi các nhóm thảo luận hay khi học sinh độc lập suy nghĩ làm việc cá nhân, giáo viên phải tổ chức cho các em trình bày kết quả làm việc của mình. Đây chính là phần thảo luận chung trước lớp. Lúc này, người giáo viên thực sự đóng vai trò là một trọng tài mà “sân cỏ” là lớp học. Cái khó hơn cả cho trọng tài là có khi 30 em trong lớp học lại có hàng chục ý kiến khác nhau hoặc cùng có kết quả như vậy mà cách lý giải lại khác nhau. Làm sao giáo viên phải lắng nghe được tất cả, thu thập các dữ liệu, phân tích rồi đưa ra một kết luận chung mà tất cả các em đều chấp nhận. Người có ý kiến đúng, được cô khen thì phấn khởi, mạnh dạn, tự tin. Bạn đưa ra ý kiến chưa đúng thì chấp nhận, tự sửa sai và ghi nhớ. Nếu như trước đây, sau khi học sinh thảo luận nhóm tôi mời đại diện một nhóm lên trình bày kết quả bài làm của nhóm mình, các nhóm khác quan sát, đối chiếu bài làm của nhóm bạn với bài làm của nhóm mình để nhận xét, bổ sung ý kiến. Cuối cùng, giáo viên là người chốt kiến thức. Nhưng làm như vậy tôi thấy học sinh tìm được ít từ theo yêu cầu của bài mà vẫn không phát huy được tính tích cực, chủ động của học sinh, học sinh vẫn chưa thực sự tự tin bộc lộ hết năng lực của mình. Vì vậy tôi thay đổi phương pháp và tiến hành như sau: Sau khi phân tích đề bài, phân tích mẫu, giáo viên giao nhiệm vụ: Dựa vào những kiến thức mà em đã học, thảo luận nhóm nhóm 6 nội dung bài tập và viết kết quả thảo luận nhóm vào bảng nhóm, thời gian thảo luận là 3 phút. Trong quá trình học sinh thảo luận, tôi đi giúp đỡ các em và quan sát thấy các em rất tích cực, chủ động tìm kiến thức mới, hợp tác tốt với các bạn trong nhóm. Hết thời gian thảo luận tôi nhận xét chung sau đó làm theo các bước: - Mời đại diện một nhóm lên trình bày bài làm của nhóm mình, đồng thời các nhóm còn lại phải đánh dấu vào các từ giống nhóm bạn, ghi số từ nhóm mình tìm được vào góc của bảng nhóm. - Các nhóm khác nhận xét bài làm của nhóm bạn. - Đại diện nhóm trình bày hỏi các bạn: Nhóm các bạn tìm được từ nào giống và khác nhóm mình. (Nếu từ của nhóm bạn khác từ của nhóm mình thì viết từ đó vào bên cạnh bảng của nhóm mình). - Học sinh có thể hỏi nhau về nghĩa của một số từ ngữ khó. Nếu học sinh giải thích được cho bạn thì giải thích luôn, nếu không sẽ nhờ đến sự trợ giúp của giáo viên. - Học sinh cũng có thể yêu cầu bạn đặt câu với từ khó hiểu hoặc cách tìm những từ đó.
  11. - Cuối cùng, giáo viên là người giải đáp tất cả các thắc mắc của các em, chốt ý đúng và rút ra kiến thức của bài cần đạt được. Ví dụ: Khi dạy bài: Từ ngữ chỉ sự vật, hoạt động; Câu giới thiệu, câu nêu hoạt động. (tuần 1), với Bài tập 1: Dựa vào tranh, tìm từ ngữ chỉ sự vật, hoạt động (theo mẫu): Từ ngữ chỉ sự vật Từ ngữ chỉ hoạt động Chỉ người Chỉ vật bác nông dân Gặt lúa con trâu Gặm cỏ (...) (...) (...) *- Sau khi phân tích đề bài, cho H mẫu. - Tôi giao nhiệm vụ: Dựa vào những kiến thức mà em đã học, thảo luận nhóm 6 nội dung bài tập và viết kết quả thảo luận vào bảng nhóm, thời gian thảo luận là 3 phút. - Đại diện 1 nhóm lên trình bày kết quả : +Từ chỉ người là: Cậu bé, cô bé, cô nông dân, con trâu... +Hoạt động là: -> Các nhóm khác đối chiếu, nhận xét. - Hoc sinh chia sẻ bài làm: +, Nhóm bạn tìm được từ nào giống và khác nhóm tớ? + Nhóm 1: Nhóm tớ có kết quả giống nhóm bạn nhưng ở phần tính nết của đom đóm nhóm tớ tìm được từ “chăm chỉ” khác với nhóm bạn. + H đã giải thích: theo tớ từ “chăm chỉ” là từ chỉ đặc điểm nhưng trong hai khổ thơ này không có từ “chăm chỉ” + Nhóm khác: Ở phần hoạt động của đom đóm nhóm tớ từ tìm được từ: “lo cho người ngủ” mà nhóm bạn không có. + Học sinh đã hỏi ý kiến tôi kết quả của nhóm bạn như vậy có đúng không? Sau khi học sinh trao đổi ý kiến với bạn, tôi giải đáp thắc mắc của học sinh và chốt những ý đúng. Sau đó rút ra kiến thức của bài. 3.3. Biện pháp 3: Đánh giá kết quả thảo luận: Năm học 2020 – 2021, là năm đánh dấu sự xuất hiện của Thông tư 27 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định đánh giá học sinh tiểu học ban hành kèm theo Thông tư số 32/2014/TT-BGDĐT ngày 28 tháng 8 năm 2014 của Bộ
  12. trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.Theo Thông tư 27, việc kiểm tra đánh giá học sinh Tiểu học có nhiều thay đổi. Trong tiết học Luyện từ và câu, tôi đã tích cực nhận xét, đánh giá HS phù hợp. Trong quá trình thảo luận, tôi luôn xác định các đối tượng có thể tham gia nhận xét, đánh giá là: Gv nhận xét, đánh giá Hs HS tự nhận xét, đánh giá bạn. HS tự nhận xét, đánh giá kết quả học tập của mình. Tôi yêu cầu các em lắng nghe để nhận xét và đặt câu hỏi chia sẻ, đánh giá bạn chính xác. Khi học sinh nhận xét, đánh giá bạn tôi động viên, khích lệ bằng những lời khen, những phần quà nhỏ để các em tự tin, mạnh dạn đưa ra những lời nhận xét theo suy nghĩ của chính mình. Tôi luôn có lời khen cho cả những học sinh lên chia sẻ ý kiến và những học sinh biết đặt câu hỏi chia sẻ cùng bạn. Vận dụng linh hoạt cách đánh giá của Thông tư 27 về cách nhận xét, đánh giá trong giờ Luyện tập đã làm cho học sinh học tập một cách tích cực, tự giác, và sáng tạo. Mặt khác còn kích thích được phong trào thi đua học tập trong lớp. Do đó kết quả mang lại rất khả quan; nhiều em rụt rè nay đã hăng say phát biểu xây dựng bài, lớp học sôi nổi, học sinh hứng thú, tiếp thu kiến thức nhanh chóng. Các biện pháp này phát huy năng lực và nghệ thuật sư phạm của giáo viên. Thực tế cho thấy rằng người giáo viên không chỉ cung cấp cho học sinh những tri thức, kĩ năng cần thiết mà còn truyền đến cho các em cả lương tâm, tình cảm và trách nhiệm của chính mình. 4. Quy trình thực hiện biện pháp: a. Chuẩn bị của giáo viên: - Lớp đối chứng: Thiết kế kế hoạch bài dạy cho học sinh làm việc cá nhân, không có hoạt động thảo luận nhóm. - Lớp thực nghiệm: Thiết kế kế hoạch bài học với hình thức cho học sinh thảo luận nhóm các bài tập rồi mới làm bài. b. Tiến hành dạy thực nghiệm: Thời gian dạy thực nghiệm vẫn tuân theo kế hoạch dạy học và tuân theo thời khóa biểu của nhà trường.
  13. III. THỰC NGHIỆM BIỆN PHÁP TẠI ĐƠN VỊ 1. Đối tượng, nội dung, phương pháp thực nghiệm: 1.1. Đối tượng: Học sinh lớp 3A trường Tiểu học Đoàn Lập, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng. 1.2. Nội dung thực nghiệm. + Hướng dẫn học sinh thảo luận tiết Luyện tập Tuần 5: Từ chỉ đặc điểm; Câu nêu đặc điểm. + Ra đề kiểm tra 15 phút để đánh giá kết quả. Bài: Luyện từ và câu Tuần 5: Từ chỉ đặc điểm; Câu nêu đặc điểm. Bài 1: Tìm những từ ngữ chỉ đặc điểm của con đường. M: mấp mô Bài 2: Tìm thêm các từ ngữ chỉ đặc điểm cho mỗi nhóm dưới đây và đặt câu với 2- 3 từ ngữ tìm được. Bài 3: Chọn từ chỉ đặc điểm trong khung thay cho ô vuông. Xxxxxxxanh um Buổi sáng, Nam đạp xe tới trường trên con đường quen thuộc.Hè đã sang, mấy cành phượng vĩ nở hoa . Tiếng ve kêu giữa những tán lá sấu . Gần đến trường, khung cảnh hẳn lên. Mấy em bé lớp 1 chia tay mẹ vào lớp, vừa đi vừa ngoái lại: “ Mẹ oi, chiều mẹ đón con nhé!”. (Kim Ngân) 1.3. Phương pháp thực nghiệm: - Phương pháp lý luận: Sưu tầm tài liệu, đọc tài liệu, tra cứu thông tin; - Phương pháp điều tra, phân tích, tổng hợp: Dự giờ đồng nghiệp, giảng dạy thực tế, phân tích kết quả học tập của học sinh; - Đưa biện pháp đề xuất vào giảng dạy trực tiếp tại lớp 3 Trường Tiểu học Đoàn Lập bằng cách: lập kế hoạch cho buổi thảo luận nhóm; lựa chọn bài tập cần thảo luận và hình thức thảo luận; đưa ra hệ thống câu hỏi mở để kích thích khả năng sáng tạo của học sinh. Cần lưu ý rằng, không nên lạm dụng hình thức thảo luận, chỉ những vấn đề cần thiết mới đưa ra thảo luận, nếu không sẽ làm lãng phí thời gian của lớp. - Xử lí kết quả thực nghiệm.
  14. 2. Tiến trình thực thực nghiệm. Thời gian tiến hành dạy thực nghiệm vẫn thực hiện theo thời gian biểu của nhà trường để đảm bảo tính khách quan và tiện lợi không ảnh hưởng đến tâm lý học sinh. Chọn hai lớp nguyên vẹn : lớp 3A là lớp thực nghiệm và lớp 3B là lớp đối chứng. Tôi dạy thực nghiệm trực tiếp bài Luyện tập Tuần 5: Từ chỉ đặc điểm; Câu nêu đặc điểm. Sau khi dạy thực nghiệm tôi đã ra đề kiểm tra 15 phút để cả hai lớp cùng làm với đề bài sau: Bài 1: Sắp xếp các từ sau vào 3 nhóm tương ứng: lộp độp, trắng tinh, tí tách, mằn mặn , vàng tươi, chát , nâu, đen, leng keng, xanh biếc,rì rầm, xanh dương, chan chát, đo đỏ, đỏ tươi, chua loét, tím biếc, trắng ngần, bộp bộp, meo meo... Từ chỉ màu sắc Từ chỉ âm thanh Từ chỉ hương vị . . . . . . . . Bài 2: Đặt câu với 2 từ ngữ ở bài tập 1. ..................................................................................................................................... ............................................................................................................................ Bài 3: . Gạch dưới từ ngữ chỉ đặc điểm có trong mỗi câu văn dưới đây: a) Cây bỏng lá dày như chiếc bánh quy. Hoa của nó treo lủng là lủng lẳng từng chùm như những chiếc đèn lồng xanh xanh hồng hồng nhỏ xíu, xinh ơi là xinh! b) Cánh rừng mùa đông trơ trụi. Những thân cây khẳng khiu vươn nhành cành khô xơ xác trên nền trời xám xịt. 3. Đánh giá kết quả thực nghiệm: 3.1. Giờ dạy thực nghiệm: a. Đối với lớp 3B: Bài tập 1: Các em xếp các từ vào ba nhóm nhưng một số học sinh xếp còn chưa chính xác. Bài tập 2: Các em đã biết đặt câu tuy nhiên nghĩa của một số câu còn chưa hay. Vd: Da mặt bạn Hà trắng tinh. Cánh cửa kêu lộp độp.
  15. Mặt khác, nhiều em viết hình thức câu chưa đạt: Đầu câu không viết hoa, cuối câu không có dấu chấm. Bài tập 3: Các em lúng túng trong việc xác định đúng từ chỉ đặc điểm, còn nhầm lẫn giữa từ chỉ đặc điểm và từ chỉ hoạt động. Kết quả trên cho thấy, nếu không cho các em được thảo luận trong giờ học thì kết quả học tập của các em bị hạn chế về kiến thức và kĩ năng. Mặt khác, không khí lớp học rất trầm, không sôi nổi; chưa phát huy được tính tích cực, tự giác của học sinh. Học sinh chưa tự tin trong học tập và tiết học kéo dài, không đảm bảo về mặt thời gian. b. Đối với lớp 3A: Bài tập 1: (Hình thức tổ chức: Cá nhân – Nhóm đôi - Lớp) Các em được thảo luận nhóm 6 nên đã xếp đúng và nhanh các từ vào hai nhóm. Các em đã giúp nhau nhớ được nghĩa của các từ nên đã giải thích được vì sao xếp từ vào nhóm 1 hoặc nhóm 2. Bài tập 2: (Hình thức tổ chức: Nhóm 6 - Lớp với yêu cầu 1 và cá nhân với yêu cầu 2) Các em được thảo luận nhóm sáu nên tìm được rất nhiều các từ chỉ màu sắc, hương vị, âm thanh. Bài tập 3: (Hình thức tổ chức: Cá nhân – Nhóm đôi – Lớp) Các em được thảo luận nhóm đôi nên đã tìm đúng và nhanh các bộ phận câu theo đúng yêu cầu của bài. Bài tập 4: (Hình thức tổ chức: Cá nhân – Nhóm đôi – Chia sẻ trước lớp) Các em xác định được các từ chỉ đặc điểm trong đoạn văn và còn mạnh còn mạnh dạn chia sẻ ý kiến trước lớp; nhận xét bài làm của bạn, của mình một cách tự tin. 3.2. Kết quả kiểm tra: ĐIỂM LỚP Hoàn thành tốt Hoàn thành Chưa hoàn thành 3A (29 HS) 17 bài = 58,6% 12 bài = 41,4% 0 bài = 0% 3B (27 HS) 12 bài = 44,4% 10 bài = 37% 5 bài = 18,5%
  16. Như vậy, qua tiết dạy thực nghiệm và kết quả của bài kiểm tra khảo sát, tôi nhận thấy rằng, đối với học sinh lớp 3A: - Về Kiến thức, kĩ năng: Học sinh đã dược phát triển ngôn ngữ, mở rộng được vốn từ của bản thân (tìm được nhiều từ chỉ đặc điểm). Các em biết cách đặt câu nêu đặc điểm chính xác hơn. - Về năng lực, phẩm chất: Học sinh mạnh dạn, tự tin trong học tập: tự tin nêu ý kiến, tự tin đặt và chia sẻ câu hỏi liên quan tới bài tập với bạn, với giáo viên. Các em được tự do nêu ý kiến, suy nghĩ và những thắc mắc của các em về kiến thức các em đang được học Để làm được như trên, bản thân tôi phải hướng dẫn, dẫn dắt các em cách thảo luận kiến thức trong giờ học ngay từ đầu năm học. Cho các em làm quen với cách học mới. Lúc đầu rất khó khăn vì các em không tự tin nêu câu hỏi, chưa hình dung được cách làm, cách chia sẻ, cách đặt câu hỏi thắc mắc với bạn, với cô. Nhưng với sự kiên trì của bản thân, tôi đã gặt được những thành công; Các học sinh lớp tôi tự tin hơn nhiều so với đầu năm học. Trong các giờ học, các em rất hào hứng chứ không thấy mệt mỏi căng thẳng. Đã có những tiếng cười trong tiết học và đã có những tiến bộ trong học tập của từng cá nhân học sinh trong lớp. Điều đó cho thấy việc áp dụng các biện pháp hướng dẫn học sinh thảo luận trong giờ Luyện từ và câu đã góp phần nâng cao chất lượng học cho học sinh lớp tôi. IV. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 1. Kết luận: Với việc hướng dẫn học sinh thảo luận trong giờ Luyện tập, tôi thấy sự giao lưu giữa thầy và trò thân mật, thoải mái và bình đẳng hơn. Người giáo viên đã thực sự là người tổ chức để học sinh khám phá tri thức. Xóa đi được ngăn cách mặc cảm xưa nay thầy là người cho, trò là người nhận tri thức. Học sinh mạnh dạn, tự tin, diễn đạt mạch lạc, trôi chảy. Nhiều em gái lớp tôi trước đây rụt rè, nhút nhát nay đã có khả năng nói dõng dạc trước đông người. Các em còn có ý thức cộng tác khi làm việc chung. Điều đó giúp các em học tốt cả phân môn tập làm văn và Kể chuyện. Đặc biệt những kiến thức về nhận biết các từ chỉ người, vật, hành động, tính chất, ...; cách đặt một số kiểu câu, một số nghi thức lời nói giao tiếp; cách dùng dấu chấm, dấu phẩy, dấu hỏi chấm, ... được các em nắm vững và thực hành tốt trong khi làm các bài tập và vận dụng khi làm tập làm văn. Nhiều giờ học đã
  17. trở thành ấn tượng đẹp đẽ với các em. Đó thực sự là niềm vui của người giáo viên khi áp dụng phương pháp dạy học mới. 2. Đề xuất: Luyện tập là phân môn khó dạy (về cách thức tổ chức) rất mong các cấp lãnh đạo tổ chức Hội thảo chuyên môn về phân môn này nhiều hơn. Tạo điều kiện để giáo viên trong huyện, trong thành phố được giao lưu học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau để chất dượng dạy và học phân môn Luyện tập nói riêng cũng như các môn học khác ở bậc Tiểu học nói chung đạt kết quả tốt hơn. Trên đây là những suy nghĩ, những việc làm tôi đã tiến hành trong quá trình dạy phân môn Luyện từ và câu lớp 3. Do thời gian nghiên cứu có hạn, tuy đã rất cố gắng song bài viết của tôi không thể tránh khỏi những hạn chế, rất mong nhận được sự góp ý của các cấp lãnh đạo, các bạn đồng nghiệp đóng góp xây dựng thêm để cho biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục của tôi được hoàn thiện hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn! Đoàn lập, ngày 16 tháng 10 năm 2024. XÁC NHẬN CỦA HIỆU TRƯỞNG NGƯỜI VIẾT Nguyễn Thị Kim Phượng
  18. TÀI LIỆU THAM KHẢO. STT Chức danh khoa học Tên tài liệu tham khảo Tên nhà xuất Năm và họ tên tác giả bản xuất bản Nhóm tác giả : Cao Đức Phương pháp dạy học 1 Tiến, Nguyễn Quang Tiếng Việt ở trường Tiểu Nhà xuất bản Ninh, Nguyễn Trí học Hà Nội 1991 Rèn luyện kỹ năng thực Nhà xuất bản 1991 2 hành Tiếng Việt Hà Nội 3 Dự án phát triển GV Tiểu Nhà xuất bản học : Dạy lớp 3 theo ĐHSP. 2007 chương trình Tiểu học mới. SGK Tiếng Việt lớp 3 tập Nhà xuất bản 2006 4 1+2 GD và ĐT SGV Tiếng Việt lớp 3 tập Nhà xuất bản 2006 5 1+2 GD và ĐT 6 Thông tư số 22/2016/TT- BGDĐT ngày 22 tháng 9 năm 2016 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
  19. PHỤ LỤC GIÁO ÁN DẠY THỰC NGHIỆM Phân môn: Luyện từ và câu TỪ NGỮ VỀ CỘNG ĐỒNG. ÔN TẬP CÂU: AI LÀM GÌ? I. YÊU CẦU CẦN ĐẠT: 1. Kiến thức: - HS hiểu và phân loại được một số từ ngữ về cộng đồng. (BT 1) - HS biết tìm các bộ phận của câu trả lời cho câu hỏi: Ai (cái gì, con gì)?, làm gì? (BT 3) - Biết đặt câu hỏi cho các bộ phận của câu đã xác định (BT 4); Đối với HS M3 + M4 làm được BT 2. 2. Kĩ năng: Nâng cao kỹ năng sử dụng từ ngữ, kỹ năng đặt câu. 3. Năng lực, phẩm chất : * HS có cơ hội hình thành và phát triển những năng lực , phẩm chất +, Năng lực: NL tự chủ và tự học, NL giáo tiếp và hợp tác, NL giải quyết vấn đề và sáng tạo, NL ngôn ngữ +, Phẩm chất: Mạnh dạn thực hiện nhiệm vụ học tập. biết yêu thương quý trọng người thân và gia đình. II. ĐỒ DÙNG: GAĐT, máy soi III. CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY – HỌC: Hoạt động của GV Hoạt động của HS 1. HĐ khởi động (3 – 5 phút) - HS hát bài: Lớp chúng ta đoàn kết. - Tìm hình ảnh so sánh và những từ chỉ hoạt động trong khổ thơ sau? Cau cao cao mãi - Làm BC Tàu vươn giữa trời Như tay ai vẫy Hứng làn mưa rơi - Kết nối kiến thức - Học sinh nghe giới thiệu, ghi bài. - Giới thiệu bài mới - Ghi bảng đầu bài. 2. HĐ thực hành (20 - 30 phút): *Bài 1/65 (Cá nhân – Nhóm 6 - Lớp) - Đọc thầm, nêu yêu cầu bài. - Phân tích yêu cầu: xếp ...từ ... bảng phân - Đọc thầm, nêu nghĩa các từ, nêu 2 loại. nhóm từ. - Có mấy từ? Phải xếp vào mấy nhóm? Là
  20. những nhóm nào? - Có 6 từ xếp vào 2 nhóm - Đưa hình ảnh giải thích nghĩa từ; cộng - Quan sát, lắng nghe. đồng, đồng đội, đồng tâm. - Giao việc, kiểm tra: Thảo luận nhóm 6, đọc các từ và nghĩa của từng từ, xếp các từ vào hai nhóm, thời gian 3 phút. - Thảo luận nhóm 6, viết kết quả - Theo dõi, giúp đỡ học sinh. thảo luận vào bảng nhóm. - Kiểm tra kết quả của H. - Đại diện nhóm lên chia sẻ bài làm. - Các nhóm khác nhận xét, chia sẻ - Dự kiến câu hỏi chia sẻ: bài cùng nhóm bạn. +, Vì sao từ Cộng tác bạn lại xếp vào nhóm Thái độ, hoạt động trong cộng đồng? +, Bạn cho tớ hỏi: “Người cùng quê” là nghĩa của từ nào? - Nhận xét, chốt ý đúng. - Tuyên dương những nhóm có kết quả đúng. - Đưa đáp án đúng lên màn hình. - 1 HS đọc lại các từ => Các từ ở bài tập 1 thuộc chủ điểm nào? - ... chủ điểm Cộng đồng Tìm thêm từ thuộc hai nhóm? - ... đồng chí, ... => Bài tập 1 đã giúp các em hiểu nghĩa một số từ ngữ về cộng đồng. => GVKL: Cộng đồng là những người cùng sống trong một tập thể hoặc một khu vực gắn bó với nhau. Cùng sống trong một cộng đồng, một tập thể, chúng ta cần hợp tác trong các hoạt động chung. Khi làm việc cùng, cần đồng lòng, đồng tâm thì công việc mới đạt hiệu quả cao. * Bài 2/66. (Cá nhân – Nhóm đôi - Lớp) - Đọc thầm – Nêu yêu cầu - Phân tích yêu cầu: ... tán thành ... không tán - Đọc thầm các câu thành ngữ, tục thành ... ngữ. – 1H đọc. - GV giải nghĩa từ “Cật” (phần lưng, ở chỗ - Lắng nghe ngang bụng); “vại” (vật dụng bằng gốm dùng để đựng gạo hoặc muối cà, dưa. a) Chung lưng đấu cật: Đoàn kết, góp sức cùng nhau làm việc. b) Cháy nhà hàng xóm bình chân như vại: Ích kỉ, thờ ơ, chỉ biết mình, không quan tâm