Biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục - Một số biện pháp giúp học sinh học tốt dạng toán có lời văn Lớp 3
Bạn đang xem tài liệu "Biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục - Một số biện pháp giúp học sinh học tốt dạng toán có lời văn Lớp 3", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
bien_phap_nang_cao_chat_luong_giao_duc_mot_so_bien_phap_giup.doc
Nội dung tài liệu: Biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục - Một số biện pháp giúp học sinh học tốt dạng toán có lời văn Lớp 3
- 1 ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG TRƯỜNG TIỂU HỌC MINH ĐỨC HỘI THI GIÁO VIÊN DẠY GIỎI CẤP TRƯỜNG NĂM HỌC 2024-2025 BÁO CÁO BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC Một số biện pháp giúp học sinh học tốt dạng toán có lời văn lớp 3 TÁC GIẢ: PHÙNG THUÝ MAI Giáo viên trường: Tiểu học Minh Đức Tổ chuyên môn: Tổ 1 Thị Trấn , ngày 28 tháng 10 năm 2024
- 2 CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc TÓM TẮT THÀNH TÍCH I. THÔNG TIN CÁ NHÂN - Họ và tên: Phùng Thuý Mai . Giới tính: Nữ - Ngày tháng năm sinh: 25/11/1979 - Năm vào ngành: 2006 - Trình độ đào tạo: Đại học - Đơn vị công tác: Trường tiểu học Minh Đức . - Xếp loại Chuẩn nghề nghiệp năm 2023-2024: Khá II. Tóm tắt thành tích cá nhân 1. Kết quả giảng dạy: Giáo viên dạy giỏi cấp trường. 2. Danh hiệu giáo viên giỏi các cấp theo năm học: - Năm học 2022 – 2023 đạt danh hiệu giáo viên dạy giỏi cấp trường. - Năm học 2023 – 2024 đạt danh hiệu giáo viên dạy giỏi cấp trường. Xác nhận của Hiệu trưởng Tiên Lãng, ngày 28 tháng 10 năm 2024 NGƯỜI BÁO CÁO (Ký ghi rõ họ tên) Phùng Thuý Mai
- 3 I. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do lựa chọn biện pháp Trong chương trình môn Toán ở Tiểu học, giải toán có lời văn giữ một vai trò quan trọng. Thông qua việc giải toán, các em sẽ biết được nhiều khái niệm toán học. Đồng thời còn rèn cho học sinh năng lực tư duy, tính cẩn thận, óc sáng tạo, cách lập luận bài toán trước khi giải, giúp học sinh vận dụng các kiến thức, rèn luyện kĩ năng tính toán, kĩ năng ngôn ngữ. Bên cạnh đó, thông qua việc giải toán của học sinh, giáo viên có thể dễ dàng phát hiện những ưu điểm, thiếu sót của các em về kiến thức, kĩ năng, tư duy để giúp học sinh phát huy những mặt đạt được và khắc phục những mặt thiếu sót. Chính vì vậy, việc đổi mới phương pháp dạy toán có lời văn ở cấp Tiểu học nói chung và ở lớp ba nói riêng là một việc rất cần thiết mà mỗi giáo viên Tiểu học cần phải nâng cao chất lượng dạy học toán cho học sinh. Việc dạy giải toán có lời văn là có vai trò quan trọng trong chương trình toán Tiểu học, là một công việc hàng ngày của giáo viên và học sinh. Nó sẽ giúp các em phát triển trí thông minh, óc sáng tạo và làm việc một cách khoa học. Bởi vì khi giải toán, học sinh phải biết tập trung chú ý vào bản chất của đề toán, biết phân biệt cái đã cho và cái phải tìm, phải biết phân tích để tìm ra những đường dây liên hệ giữa các số liệu . Nhờ đó mà đầu óc các em sáng suốt, tinh tế hơn, tư duy của các em sẽ linh hoạt, chính xác hơn. Cách suy nghĩ và làm việc của các em sẽ khoa học hơn. Do đó giải các bài toán có lời văn là cách tốt nhất để rèn luyện đức tính kiên trì, tự lực vượt khó, cẩn thận chu đáo, tính chính xác cho học sinh. Khả năng giáo dục nhiều mặt của môn Toán rất to lớn, nó có khả năng phát triển tư duy lôgic, phát triển trí tuệ. Nó có vai trò quan trọng trong việc rèn luyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp suy luận, phương pháp giải quyết vấn đề có suy luận, có khoa học toàn diện, chính xác, có nhiều tác dụng phát triển trí thông minh, tư duy độc lập sáng tạo, linh hoạt,... góp phần giáo dục tính nhẫn nại, tính vượt khó của học sinh. Thông qua học toán giúp các em có điều kiện tiếp cận và nắm bắt các môn học, tiếp thu và chiếm lĩnh được tri thức, tự tin trong cuộc sống hàng ngày. Nhằm góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam hiện đại, phát triển toàn diện về mọi mặt Đức - Trí - Thể - Mĩ cho học sinh. Vậy làm thế nào để học sinh hiểu đề bài, biết cách giải và tìm ra đáp số đúng của bài toán, đó là điều khiến tôi rất trăn trở. Đây là lí do mà tôi chọn đề tài “Một số biện pháp giúp học sinh học tốt dạng toán có lời văn lớp 3”.mong tìm ra những giải pháp nhằm góp phần nâng cao kỹ năng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 3 nói chung và học sinh lớp tôi chủ nhiệm nói riêng. Để các em có thể giải thành thạo những bài toán có lời văn ở lớp 3 và những bài toán có lời văn khác khi học lên các lớp trên. 2. Đối tượng áp dụng Đề tài mà tôi nghiên cứu đã được nêu nhiều trong các sách về phương pháp giảng dạy Toán, và đã được nhiều giáo viên nghiên cứu viết thành sáng kiến kinh nghiệm.Nhưng với đặc điểm riêng của từng vùng, nhất là đối với lớp tôi đang chủ nhiệm, tôi tiếp tục mạnh dạn nghiên cứu vấn đề này để có thêm một số kinh nghiệm trong việc rèn cho học sinh kĩ năng giải toán có lời văn.
- 4 Đề tài này được áp dụng khi dạy Toán có lời văn lớp Ba. Đối tượng nghiên cứu là học sinh lớp 3C Ttrường Tiểu học Minh Đức ; năm học 2024 - 2025. II. NỘI DUNG GIẢI PHÁP 1. Mục tiêu của biện pháp: Khi nghiên cứu đề tài này tôi hướng tới hai mục đích: - Giúp học sinh nhận dạng bài toán và lựa chọn phương pháp giải toán thích hợp để giải từng bài toán cụ thể trong từng quá trình học toán. - Giúp học sinh định hướng đúng đắn cách giải và trình bày bài giải một cách khoa học, chính xác, đầy đủ. * .Nhiệm vụ nghiên cứu. Năm học 2024-2025, tôi được phân công dạy lớp 3C, qua tìm hiểu học sinh, tôi nhận thấy số học sinh biết giải toán còn thấp. Còn số học sinh còn lại thì các em vẫn gặp khó khăn trong giải toán.Vì vậy ngay từ đầu năm học tôi quyết định chọn đề tài “Một số biện pháp giúp học sinh lớp 3 học tốt dạng toán có lời văn” để đi sâu nghiên cứu dạng toán có lời văn. Để tìm ra nguyên nhân và đề ra các biện pháp khắc phục những khó khăn mà học sinh thường gặp phải khi học toán có lời văn. 2. Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn để xây dựng biện pháp: 2.1. Cơ sở lí luận: - Giải toán có lời văn có vai trò quan trọng trong chương trình giảng dạy môn toán ở bậc tiểu học. Nội dung của việc giải toán gắn chặt một cách hữu cơ với nội dung của số học và số tự nhiên, các số thập phân, các đại lượng cơ bản và các yếu tố đại số, hình học có trong chương trình. Vì vậy, việc giải toán có lời văn có một vị trí quan trọng thể hiện ở các điểm sau: + Các khái niệm và các quy tắc về toán trong sách giáo khoa, nói chung đều được giảng dạy thông qua việc giải toán. Việc giải toán giúp học sinh củng cố, vận dụng các kiến thức, rèn luyện kỹ năng tính toán. Đồng thời qua việc giải toán của học sinh mà giáo viên có thể dễ dàng phát hiện những ưu điểm hoặc thiếu sót của các em về kiến thức, kỹ năng và tư duy để giúp các em phát huy hoặc khắc phục. + Việc kết hợp học và hành, kết hợp giảng dạy với đời sống được thực hiện thông qua việc cho học sinh giải toán, các bài toán liên hệ với cuộc sống một cách thích hợp giúp học sinh hình thành và rèn luyện những kỹ năng thực hành cần thiết trong đời sống hàng ngày, giúp các em biết vận dụng những kỹ năng đó trong cuộc sống. + Việc giải toán góp phần quan trọng trong việc xây dựng cho học sinh những cơ sở ban đầu của lòng yêu nước, tinh thần quốc tế vô sản, thế giới quan duy vật biện chứng. Việc giải toán có thể gúp các em thấy được nhiều khái niệm toán học, ví dụ: các số, các phép tính, các đại lượng v.v... đều có nguồn gốc trong cuộc sống hiện thực, trong thực tiễn. + Việc giải toán giúp phần quan trọng vào việc rèn luyện cho học sinh năng lực tư duy và những đức tính tốt của con người lao động mới. Hoạt động trí tuệ có trong việc giải toán góp phần giáo dục cho các em ý trí vượt khó khăn, đức tính cẩn thận, chu đáo làm việc có kế hoạch, thói quen xem xét có
- 5 căn cứ, thói quen tự kiểm tra kết quả công việc mình làm, óc độc lập suy nghĩ, óc sáng tạo ... 2.2. Cơ sở thực tiễn: a. Nội dung chương trình môn toán lớp 3, trọng tâm là dạng “giải toán có lời văn” Trong nội dung chương trình môn toán lớp 3 gồm 5 mạch kiến thức: Các kiến thức về số học, các kiến thức về yếu tố hình học, đại lượng và phép đo đại lượng, một số yếu tố thống kê, giải toán có lời văn. Giải toán có lời văn là mạch kiến thức trọng tâm, có một vị trí quan trọng vì nó góp phần rèn luyện trí thông minh, phát triển tư duy, đặc biệt là tư duy giải toán cho học sinh Tiểu học, đồng thời nó còn giúp các em học tốt các mạch kiến thức khác. Giải toán có lời văn ở lớp 3 được chú trọng vào các dạng điển hình. Các bài toán có lời văn được sắp xếp xen kẽ với các mạch kiến thức khác. Vì vậy, giáo viên cần nắm vững nội dung chương trình, cấu trúc SGK về “Giải toán có lời văn” ở lớp 3 và chuẩn kiến thức kĩ năng của từng bài dạy để xác định được trong mỗi tiết học phải dạy cho học sinh cái gì, dạy như thế nào? Từ đó xây dựng kế hoạch bài dạy, lựa chọn phương pháp phù hợp với từng đối tượng học sinh để bài giảng của mỗi tiết học đạt được hiệu quả cao. Đối với nhận thức của học sinh Tiểu học nói chung, của lớp tôi nói riêng, đa số các em giải toán có lời văn còn yếu do nhiều nguyên nhân, trong đó vẫn là do các em thường vội vàng hấp tấp, đơn giản hoá vấn đề, đôi khi chưa hiểu rõ đề bài nên dẫn đến kết quả nhiều lúc bị sai, thiếu hoặc đúng nhưng chưa đầy đủ. Cùng một kiến thức do giáo viên đưa ra, có em nắm bắt rất nhanh, say sưa hứng thú bắt tay ngay vào việc tìm hiểu và giải quyết vấn đề nhưng cũng có em thì ngồi đó với tâm trạng hờ hững do không nắm được bản chất của vấn đề đó, sinh ra chán nản, hiệu quả giảm sút rất nhiều. Đó là một thực tế mà người giáo viên đứng lớp ai cũng gặp phải, nhất là trong quá trình dạy giải toán có lời văn. Chính vì vậy mà tôi đã lấy cơ sở từ lớp 3C của năm học 2024- 2025 đi sâu vào tìm hiểu nghiên cứu để giải quyết vấn đề này nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, giúp các em có kĩ năng khi giải toán có lời văn. b.Thực tế khảo sát chất lượng học sinh ngay từ đầu năm Muốn học sinh giải toán có lời văn tốt, trước hết tôi tìm hiểu rõ tình trạng của học sinh mình như thế nào? Sau đó, ngay từ đầu năm học, tôi tiến hành điều tra trình độ các em qua bài khảo sát. - Qua thời gian giảng dạy và qua bài khảo sát đầu năm, tôi nhận thấy nhiều em không đạt kết quả cao bài toán có lời văn là do những nguyên nhân chủ quan, khách quan sau: * Nguyên nhân chủ quan: + Đối với học sinh : - Nhận thức của học sinh chưa đồng đều. - Việc xác định đề toán của các em chưa thành thạo. - Một số em còn chủ quan, chưa đọc kĩ đề bài. + Đối với giáo viên : - Việc giảng dạy của giáo viên đôi khi chưa phát huy hết được tính tích cực, chủ động sáng tạo của các em.
- 6 - Trong quá trình tổ chức cho học sinh thực hành giải toán có những lúc chưa thật sự linh hoạt. - Trong quá trình tổ chức tiết học, giáo viên đôi lúc chưa quan tâm sâu sát đến từng đối tượng học sinh. Ví dụ: Học sinh năng khiếu cần những câu hỏi nâng cao, học sinh chậm cần những câu hỏi dễ hiểu và sát thực với đề bài. * Nguyên nhân khách quan: - Vốn Tiếng Việt của một số em còn hạn chế nên nhiều khi việc hiểu nghĩa của từ trong toán học đối với các em là rất khó, dẫn đến học sinh trả lời không chính xác. - Đó là những nguyên nhân ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng hướng dẫn học sinh giải các bài toán ở dạng có lời văn. Vì vậy, trong quá trình giảng dạy tôi luôn gần gũi, nắm được những ưu và nhược điểm của từng đối tượng học sinh, theo dõi thường xuyên cụ thể kết quả học tập (trên lớp, làm bài tập ) để phân loại đối tượng nhằm có những biện pháp phù hợp cho từng nhóm. 3. Nội dung biện pháp: a. Giáo viên: *Thuận lợi: - Được sự quan tâm và chỉ đạo tốt của các cấp lãnh đạo về chuyên môn. Tổ chức bồi dưỡng giáo viên, tổ chức những buổi học chuẩn kiến thức kỹ năng cho học sinh tiểu học vv cung cấp đủ tài liệu, phương tiện để nghiên cứu, học hỏi, giảng dạy. - Được sự giúp đỡ của Ban Giám Hiệu trường: tổ chức thao giảng, dự giờ, tổ chức những buổi học chuyên đề thảo luận về chuyên môn để rút ra những ý kiến hay, những đề xuất kinh nghiệm tốt áp dụng trong việc giảng dạy. - Đội ngũ giáo viên trường có tay nghề vững lâu năm trong công tác, có nhiều kinh nghiệm, có ý thức tốt về trách nhiệm người giáo viên và sẵn sàng giúp đỡ đồng nghiệp về chuyên môn cũng như giúp nhau tháo gỡ những khó khăn hay xử lý các trường hợp học sinh cá biệt. * Khó khăn - Tranh ảnh minh họa cho môn Toán còn hạn chế. Giáo viên còn tự làm thêm đồ dùng dạy học để tạo sinh động cho tiết dạy, nên còn mất thời gian đầu tư. b.Học sinh: *Thuận lợi: - Ở độ tuổi 8 - 9 của học sinh lớp 3. Các em đa số còn rất ngoan, dễ vâng lời, nghe lời cô giáo, thích học tập và thi đua với các bạn, dễ khích lệ động viên khen thưởng vv . - Có được sự quan tâm về việc học tập của con em mình đa số phụ huynh có ý thức trách nhiệm không khoán trắng cho nhà trường cho giáo viên. Đã tích cực bắt tay với giáo viên trong việc học tập của con em mình như: Chuẩn bị đầy đủ sách vở, đồ dùng học tập, thường xuyên nhắc nhở và tạo điều kiện tốt cho con em mình đến lớp cũng như học tập ở nhà. + Khó khăn: Qua thực tế giảng dạy và thảo luận cùng đồng nghiệp, tôi nhận thấy: Học sinh khi giải các bài toán có lời văn thường rất chậm so với các dạng bài
- 7 tập khác. Các em thường lúng túng khi đặt câu lời giải cho phép tính. Có nhiều em làm phép tính chính xác và nhanh chóng nhưng không làm sao tìm được lời giải đúng hoặc đặt lời giải không phù hợp với đề toán đặt ra. Dạy học sinh đặt câu lời giải còn vất vả hơn nhiều so với dạy trẻ thực hiện các phép tính ấy đề tìm ra đáp số. Việc đọc đề, tìm hiểu đề đang nhiều khó khăn đối với học sinh lớp 3. Vì kĩ năng đọc thành thạo của các em chưa cao, nên các em đọc được đề toán và hiểu đề còn thụ động, chậm chạp...Một số em mới chỉ đọc được đề toán chứ chưa hiểu được đề, chưa trả lời các câu hỏi thầy (cô) nêu: Bài toán cho biết gì? Chúng ta phải làm gì? - Trình độ học sinh trong lớp không đồng đều. Bên cạnh những em phát triển, học tốt, tiếp thu nhanh vẫn còn một số em yếu về thể chất, bé nhỏ hơn so với các bạn bình thường. Kèm theo phát triển chậm về trí nhớ, học trước quên sau, chậm tiến. - Còn một phần không ít phụ huynh, không và chưa quan tâm đúng mức đến việc học tập của con em mình. Chưa tạo điều kiện tốt để con em mình đến lớp cũng như nhắc nhở các em học bài, đọc bài ở nhà. - Sau đây là kết quả khảo sát 25 học sinh trong lớp tôi chủ nhiệm về giải toán có lời văn đầu năm học 2024 - 2025: Tổng số Hoàn Hoàn thành Chưa hoàn HS Thành tốt thành 25 Số lượng 9 11 5 Tỉ lệ 36 % 44 % 20% 4. Cách thức/quy trình thực hiện biện pháp: Nhận thức rõ được các khó khăn cơ bản về học sinh trong học giải toán có lời văn tôi đã có những biện pháp cụ thể sau: a.Nắm vững nội dung chương trình toán lớp 3. Giáo viên phải có thiết kế cụ thể rõ ràng, nó sẽ quyết định lớn đến chất lượng giờ dạy và đồng thời giáo viên cũng là người tổ chức, hướng dẫn thiết kế cho từng học sinh trong lớp. - Nắm vững nội dung chương trình toán 3. - Giúp học sinh có một số kĩ năng giải tốt một số dạng toán có lời văn trong chương trình toán 3. - Tăng cường luyện tập các bài toán có lời văn cho học sinh. - Dạy học quan tâm đồng đều đến tất cả các đối tượng học sinh, tạo hứng thú cho học sinh trong giờ toán. Ở chương trình toán lớp 3 thường có các dạng bài toán sau: + Dạng 1: Gấp một số lên nhiều lần( Muốn gấp một số lên nhiều lần ta lấy số đó nhân với số lần) Ví dụ: Con hái được 7 quả cam, mẹ hái được gấp 5 lần số cam của con. Hỏi mẹ hái được bao nhiêu quả cam?
- 8 + Dạng 2: Giảm đi một số lần (Muốn giảm một số đi nhiều lần, ta lấy số đó chia cho số lần) Ví dụ: Mẹ có 40 quả bưởi, sau khi đem bán số bưởi của mẹ giảm đi 4 lần. Hỏi mẹ còn lại bao nhiêu quả bưởi? + Dạng 3: So sánh số lớn gấp mấy lần số bé (Muốn biết số lớn gấp mấy lần số bé ta lấy số lớn chia cho số bé thì được số lần) Ví dụ: Một con lợn cân nặng 42kg, một con ngỗng cân nặng 6kg. Hỏi con lợn cân nặng gấp mấy lần con ngỗng? + Dạng 4: So sánh số bé bằng một phần mấy số lớn. Bước 1: Tính xem số lớn gấp mấy lần số bé. Bước 2: Trả lời số bé bằng một phần mấy số lớn. Ví dụ: Mẹ 30 tuổi, con 6 tuổi. Hỏi tuổi mẹ gấp mấy lần tuổi con? b.Chia sẻ, trao đổi với phụ huynh: Trao đổi với phụ huynh những ưu điểm, tồn tại mà các em còn hạn chế như: Học sinh chưa biết xác định dạng toán, chưa có kỹ năng tìm hiểu mối quan hệ giữa cái đã cho và cái cần tìm, một số học sinh thực hiện đúng các bước nhưng tính sai kết quả. Trao đối với phụ huynh học sinh về chỉ tiêu phấn đấu của lớp và những yêu cầu cần thiết giúp các em học tập như: mua sắm đầy đủ sách vở, đồ dùng, cách hướng dẫn các em tự học ở nhà, dành thời gian nhắc nhở, quan tâm cho các em học tập... Giải đáp cho phụ huynh những vướng mắc về cách dạy học cho các em. Sách giáo khoa mới còn nhiều kí hiệu, các lệnh, yêu cầu của sách, phụ huynh chưa rõ yêu cầu bài tập của sách Toán, tôi hướng dẫn phụ huynh cách dạy các em luyện nêu miệng các đề toán, luyện nói và trả lời các câu hỏi thường gặp. c.Giúp học sinh tự tin giao tiếp: Để giúp cho học sinh có kĩ năng thành thạo trong việc giải toán thì chúng ta không chỉ hướng dẫn học sinh trong giờ toán mà một yếu tố không kém phần quan trọng đó là luyện kĩ năng nói trong giờ dạy. Các em đã là học sinh lớp 3 xong còn rụt rè trong giao tiếp. Chính vì vậy, để các em mạnh dạn tự tin khi phát biểu, trả lời người giáo viên cần phải: luôn luôn gần gũi, khuyến khích các em giao tiếp, tổ chức các trò chơi học tập, được trao đổi, luyện nói nhiều trong các giờ Tiếng việt giúp các em có vốn từ lưu thông, không rụt rè, tự ti. Bên cạnh đó, cần phải chú ý nhiều đến kĩ năng đọc cho học sinh: Đọc nhanh, đúng tốc độ, ngắt nghỉ đúng chỗ giúp học sinh có kĩ năng nghe, hiểu được những yêu cầu mà các bài tập nêu ra. Đế củng cố tốt cho học sinh, ngoài các thí dụ trong sách giáo khoa, giáo viên cần có những bài tương tự để học sinh được thực hành giải nhiều hơn và từ đó nắm chắc hơn, tự tin hơn. d.Giúp học sinh nắm được phương pháp chung về “Giải toán có lời văn” Mỗi bài toán các em có làm tốt được hay không đều phụ thuộc vào các phương pháp giải toán được vận dụng ở mỗi bước giải bài toán đó. Cho nên chúng ta hướng dẫn học sinh nắm được các bước giải bài toán như sau: Bước 1: Tóm tắt đề toán
- 9 Đây là dạng diễn đạt ngắn gọn đề toán, tóm tắt đúng sẽ giúp cho học sinh có cách giải dễ dàng hơn, thuận lợi hơn. Nhìn vào tóm tắt là định ra các bước giải bài toán. Trên thực tế có rất nhiều cách tóm tắt. Cho nên, khi dạy tôi đã truyền đạt một số cách tóm tắt các đề toán thông dụng sau: Cách 1: Tóm tắt bằng chữ (lời) Cách 2: Tóm tắt bằng lưu đồ Tuy nhiên, tôi luôn luôn hướng các em chọn cách nào dễ hiểu nhất, rõ nhất, điều đó còn tùy thuộc vào nội dung từng bài. * Cách 1: Tóm tắt bằng chữ (lời): Ví dụ Có 45kg gạo, chia đều vào 9 túi. Hỏi mỗi túi có bao nhiêu ki-lô-gam gạo? 9túi: 45kg gạo 1 túi: ..kg gạo? *Cách 2: Tóm tắt bài toán bằng lưu đồ: Đây là cách tóm tắt ít được sử dụng hơn, tuy nhiên nó khá tiện lợi và hiệu quả với một số bài toán suy ngược từ cuối như: Nếu gấp một số lên 7 lần rồi bớt đi 5 thì được 44. Tìm số đó? x 7 - 5 X 44 Bước 3: Phân tích bài toán Sau khi tóm tắt đề bài xong, các em tập viết phân tích đề bài để tìm ra cách giải bài toán. Cho nên, ở bước này, giáo viên cần sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp, thiết lập cách tìm hiểu, phân tích bài toán theo sơ đồ dưới dạng các câu hỏi thông thường: - Bài toán cho biết gì? Bài toán hỏi gì? Muốn tìm cái đó ta cần biết gì? - Cái này biết chưa? Còn cái này thì sao? - Muốn tìm cái chưa biết ta cần dựa vào đâu? Làm như thế nào? Hiểu được những thiếu sót thường ngày của các em, tôi thường dành nhiều thời gian để hướng dẫn kĩ và kết hợp trình bày bài mẫu nhiều bài giúp các em ghi nhớ về hình thành kĩ năng. Sau khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề toán để xác định cái đã cho và cái phải tìm. Cần giúp học sinh lựa chọn phép tính thích hợp: + Chọn (phép nhân) nếu bài toán cho có từ “ gấp đôi, gấp 3...”. + Chọn (phép cộng) nếu bài toán cho có từ “nhiều hơn, cả hai”... * Nhưng tôi cũng nhắc học sinh lưu ý có một số bài toán nhiều hơn nhưng không thể làm phép cộng mà phải làm phép trừ như bài toán sau: * Ví dụ: Bài toán: Lớp 3A có 19 bạn nữ và 16 bạn nam. Hỏi số bạn nữ nhiều hơn số bạn nam là bao nhiêu? * Ví dụ: Bài toán: + Chọn ( phép trừ) nếu bài toán cho “ bớt đi” hoặc “tìm phần còn lại” Thùng thứ nhất có 125l dầu, thùng thứ hai có 160l dầu. Hỏi thùng thứ hai nhiều hơn thùng thứ nhất bao nhiều lít dầu? * Tìm cách giải bài toán, chọn phép tính giải thích hợp:
- 10 Ví dụ . * Đây là dạng toán gấp một số lên nhiều lần Con hái được 7 quả cam, mẹ hái được gấp 5 lần số cam của con. Hỏi mẹ hái được bao nhiêu quả cam? Khi gặp bài toán này một số học sinh rất lúng túng không biết làm phép tính gì đây? Nhất là đối với các em có học lực Y, TB ( có em làm phép tính cộng ) Tôi hướng dẫn học sinh như sau : Trước tiên các em cho cô biết : Bài toán cho biết gì? Bài toán hỏi gì? - Muốn tìm được số cam của mẹ ta làm thế nào? ( lấy số cam của con nhân với 5) 7 x 5 = 35 (quả) - Ở bài toán này tôi chú ý cho học sinh tìm những từ quan trọng trong bài toán để tìm ra phép tính, đó là từ (gấp 5). Khắc sâu kiến thức cho học sinh khi bài toán cho có từ “gấp” thì có phép tính nhân khi giải bài toán đó. Bên cạnh đó sẽ giúp các em nắm chắc dạng bài tập này để khi gặp những bài tập sau các em sẽ b i ết cách làm ngay. Bước 4: Viết lời giải * Đặt câu lời giải thích hợp và phép tính: Thực tế giảng dạy cho thấy việc đặt câu lời giải phù hợp là bước quan trọng và khó khăn nhất đối với một số học sinh trung bình, yếu lớp 3. Chính vì vậy việc hướng dẫn học sinh lựa chọn và đặt câu lời giải hay cũng là một khó khăn đối với người dạy. Tùy từng đối tượng học sinh mà tôi lựa chọn các hướng dẫn sau: Cách 1 : (Được áp dụng nhiều nhất và dễ hiểu nhất). Dựa vào câu hỏi của bài toán rồi bỏ bớt từ đầu “ Hỏi” thay từ “mấy”, “ bao nhiêu” bằng từ “số” rồi thêm từ “là” để có câu lời giải: VD: Bài toán hỏi: Hỏi nhà Hoa còn lại bao nhiêu con vịt? Thì câu lời giải là: Nhà Hoa còn lại số con vịt là: (Đây là đối với bài toán có một phép tính) Cách 2: (Đối với bài toán có hai phép tính). Thùng thứ nhất đựng 12 l dầu, thùng thứ hai đựng nhiều hơn thùng thứ nhất 6l dầu. Hỏi cả hai thùng đựng bao nhiêu lít dầu? Hướng dẫn học sinh tìm câu lời giải bằng cách nêu câu hỏi: “ muốn biết cả hai thùng đựng bao nhiêu lít dầu? trước hết ta phải tìm gì?” để học sinh trả lời miệng: “Tìm số lít dầu thùng thứ hai”. Rồi chèn phép tính vào để có cả bước giải (câu lời giải và phép tính). Tóm lại: Tùy từng đối tượng, từng trình độ học sinh mà hướng dẫn các em cách lựa chọn đặt câu lời giải cho phù hợp. Trong một bài toán, học sinh có thể có nhiều cách đặt lời giải khác nhau. Nên trong khi giảng dạy, ở mỗi một dạng bài cụ thể tôi để cho các em suy nghĩ, thảo luận theo bàn, nhóm để tìm ra các câu lời giải đúng và hay nhất phù hợp với câu hỏi của bài toán đó. Tuy nhiên cần hướng dẫn học sinh lựa chọn cách hay nhất (ngắn gọn, dễ hiểu, phù hợp với các em) còn các cách kia giáo viên đều công nhận là đúng và phù hợp nhưng cần lựa chọn để có câu lời giải hay nhất ghi vào bài giải.
- 11 * Lưu ý: Giáo viên phải luôn nhắc nhở học sinh chú ý cách trình bày bài giải sao cho khoa học, rõ ràng.Viết đáp số phải chính xác. Trong mọi trường hợp người giáo viên luôn luôn phải dùng thước để gạch chân và liên tục nhắc học sinh tạo cho các em bỏ thói quen xấu: gạch bằng tay. Bước 5: Kiểm tra lại bài làm (lời giải và kiểm tra kết quả) Qua quá trình quan sát học sinh giải toán, chúng ta dễ dàng thấy rằng học sinh thường coi bài toán đã giải xong khi tính ra đáp số hay tìm được câu trả lời. Khi giáo viên hỏi để khẳng định lại kết quả thì các em còn lúng túng. Vì vậy việc kiểm tra, đánh giá kết quả là không thể thiếu khi giải toán và phải trở thành thói quen đối với học sinh. Cho nên khi dạy giải toán, chúng ta cần hướng dẫn các bước sau: - Đọc lời giải. Kiểm tra các bước giải xem đã hợp lí yêu cầu của bài chưa, các câu văn diễn đạt trong lời giải đúng chưa.Thử lại kết quả vừa tính từ bước đầu tiên. Từ đó giúp các em có thói quen kiểm tra đánh giá, sửa bài. Trình bày bài giải toán có lời văn đúng, đẹp. Diễn đạt lời văn phải chính xác, cụ thể. Việc giải các bài toán bằng nhiều cách giải khác nhau có tác dụng lớn trong việc xây dựng hứng thú, thúc đẩy các em cố gắng tìm tòi, sáng tạo, rèn luyện óc suy nghĩ linh hoạt, độc lập, có phê phán và tinh thần cải tiến trong giải toán có lời văn cho học sinh. 5. Thực hiện biện pháp: Để gây được hứng thú trong học tập cho các em.Tôi đã dựa theo nội dung mỗi bài dạy, tôi đã linh hoạt chuẩn bị bài giảng với những thay đổi về hình thức tổ chức dạy học như: - Làm việc độc lập từng cá nhân trên bảng con - Chơi tiếp sức giữa các tổ trên bảng lớn của lớp - Thi đua làm nhanh giữa các nhóm ở bảng học nhóm - Cho học sinh độc lập suy nghĩ làm bài vào vở - Giáo viên trợ giúp đối với học sinh chưa đạt yêu cầu,... - Việc thay đổi hình thức tổ chức dạy học không những làm cho không khí tiết học sôi nổi mà còn làm cho các em hứng thú và say mê trong tiết học. Đối với học sinh giỏi, giáo viên có thể hướng các em nhìn lại toàn bộ bài giải, tập phân tích cách giải, động viên các em tìm các cách giải khác, tạo điều kiện phát triển tư duy linh hoạt, sáng tạo, suy nghĩ độc lập của học sinh. Bên cạnh việc hướng dẫn cách trình bày như trên, tôi cũng luôn luôn nhắc nhở, rèn luyện cho học sinh kĩ năng viết chữ : viết đúng mẫu - đẹp. Việc kết hợp giữa chữ viết đẹp, và cách trình bày đúng cũng là một yếu tố góp phần tạo nên sự thành công trong quá trình học giải toán có lời văn của các em. - Bên cạnh đó giáo viên cần phải nhận xét đánh giá bài thường xuyên. Để nhận ra sự tiến bộ của học sinh, biểu dương những học sinh đã làm tốt, khích lệ những học sinh còn thụ động, rụt rè tham gia vào giờ học. Bằng những lời khen, lời động viên thích hợp nhằm giúp cho các em mạnh dạn, tự tin hơn.
- 12 *.Kết quả Qua kết quả thực dạy tại lớp 3C, tôi rất phấn khởi vì thấy trong giờ học toán, học sinh không những say mê học tập, lớp học rất sôi nổi mà kĩ năng giải toán của các em đã được nâng lên rõ rệt.Tỉ lệ học sinh hoàn thành tốt tăng lên nhiều. Đây cũng là niềm khích lệ lớn với những người đứng lớp như chúng ta. III. THỰC NGHIỆM BIỆN PHÁP TẠI ĐƠN VỊ 1. Đối tượng, nội dung, phương pháp thực nghiệm: - Đối tượng, phạm vi nghiên cứu: Học sinh lớp 3C. - Phạm vi nghiên cứu: Các bài toán có lời văn trong chương trình Toán lớp 3. - Nội dung chương trình môn Toán lớp 3. - Biện pháp nâng cao chất lượng dạy học môn Toán lớp 3 phần giải toán có lời văn trong chương trình giáo dục phổ thông 2018. *. Phương pháp nghiên cứu a. Phương pháp trực quan b. Phương pháp gợi mở - vấn đáp. c. Phương pháp giảng giải - minh họa d. Phương pháp thực hành luyện tập e. Phương pháp sơ đồ đoạn thẳng g. Phương pháp kiến tạo *. Phạm vi và thời gian thực hiện đề tài - Chương trình Toán lớp 3, trọng tâm là dạng "Giải toán có lời văn”. - Học sinh lớp 3C trường Tiểu học Minh Đức . Thời gian nghiên cứu: Năm học 2024 – 2025, từ tháng 9 năm 2024 đến tháng 4 năm 2025. 2. Tiến trình thực nghiệm: - Bằng phương pháp dạy học gợi mở, phương pháp kiến tạo và luyện tập với nhiều hình thức tổ chức khác nhau như đã trình bày ở trên, tôi đã giúp học sinh hình thành, khắc sâu kiến thức. Giúp các em nắm chắc và thực hiện tốt 5 bước giải, từ đó giúp các em thực hiện tốt hơn bài toán giải toán có lời văn. Để học sinh thấy được rõ những yếu tố đó, tôi đưa ra hai câu hỏi: - Bước 1: Đọc và phân tích đề bài: - Bài toán cho biết gì? - Bài toán hỏi gì? Bước 2: Tóm tắt đề toán Bước này là bước rất quan trọng vì tóm tắt là ta dùng hình vẽ, ngôn ngữ, kí hiệu ngắn gọn để tóm tắt đề toán một cách vắn tắt. Bước 3: Phân tích bài toán. Sau khi đã hiểu đề bài và tóm tắt được bài toán thì tôi hướng dẫn học sinh lập kế hoạch giải toán. Bước 4: Viết lời giải Bước 5: Kiểm tra lại bài. Để củng cố, khắc sau kiến thức cho học sinh, khuyến khích học sinh chủ động, tích cực, sáng tạo hơn tránh tư duy theo lối mòn, máy móc, ở bước này, tôi khuyến khích học sinh suy nghĩ tìm ra cách giải khác.
- 13 Ví dụ: Bài toán 3: Một đoàn có 54 học sinh đi học tập trải nghiệm di chuyển bằng 2 xe ô tô nhỏ và 1 xe ô tô to. Biết rằng mỗi xe ô tô nhỏ chở 7 học sinh, số học sinh còn lại đi xe ô tô to. Hỏi có bao nhiêu học sinh đi xe ô tô to.? Tôi áp dụng 5 bước giải toán trên vào hướng dẫn học sinh giải toán như sau: Bước 1: Tìm hiểu đọc đề bài Bước 2: Tóm tắt đề toán xe ô tô to? Bước 3: Phân tích bài toán - Muốn tìm số học sinh đi xe ô tô to ta làm như thế nào? Bước 4: Viết lời giải Bước 5: Kiểm tra lại bài làm (lời giải và kiểm tra kết quả) 3. Đánh giá kết quả thực nghiệm: - Qua quá trình thực nghiệm nghiên cứu đề tài “Một số biện pháp giúp học sinh học tốt dạng toán có lời văn lớp 3”. Bản thân tôi nhận thấy rằng: Là người giáo viên nói chung và giáo viên dạy tiểu học nói riêng phải luôn học hỏi kinh nghiệm, tự học để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tự cập nhật kiến thức thông tin để đáp ứng kịp thời sự phát triển của ngành Giáo dục và của toàn xã hội. - Việc dạy học bằng phương pháp gợi mở như trên, tôi đã giúp học sinh được rèn luyện, củng cố kiến thức đồng thời cũng đã giúp các em lấy việc giải các bài toán làm phương tiện để phát triển tư duy. - Kết quả đạt được Bằng phương pháp dạy học gợi mở, phương pháp kiến tạo và luyện tập với nhiều hình thức tổ chức khác nhau như đã trình bày ở trên, tôi đã giúp học sinh hình thành, khắc sâu kiến thức. Giúp các em nắm chắc và thực hiện tốt 5 bước giải, từ đó giúp các em thực hiện tốt hơn bài toán giải có lời văn. - Qua luyện tập giải các bài toán có lời văn trong các bài học tôi đã rèn cho học sinh kỹ năng giải toán, tính toán, vận dụng kiến thức về cộng, trừ, nhân, chia các số trong những vòng số được học, Rèn học sinh giải bài toán có lời văn qua các yêu cầu khác nhau, tôi đã tạo hứng thú học tập cho các em giúp học sinh củng cố và phát triển khả năng giải toán cho học sinh. Được luyện tập thường xuyên sẽ giúp học sinh nắm chắc các bước giải bài toán có lời văn. Ngoài việc rèn luyện kĩ năng tính toán học, khi giải tốt các bài toán có lời văn học sinh sẽ có khả năng ứng dụng những điều đã học vào cuộc sống tốt. Vì các bài giải toán trong chương trình mới luôn gắn với thực tiến cuộc sống. IV. KẾT LUẬN, ĐỀ XUẤT * ưu điểm: - Được sự quan tâm và chỉ đạo tốt của các cấp lãnh đạo về chuyên môn. Tổ chức bồi dưỡng giáo viên, tổ chức những buổi học chuẩn kiến thức kỹ năng cho học sinh tiểu học vv cung cấp đủ tài liệu, phương tiện để nghiên cứu, học hỏi, giảng dạy. - Được sự giúp đỡ của Ban Giám Hiệu trường: tổ chức thao giảng, dự giờ, tổ chức những buổi học chuyên đề thảo luận về chuyên môn để rút ra những ý kiến hay, những đề xuất kinh nghiệm tốt áp dụng trong việc giảng dạy.
- 14 - Đội ngũ giáo viên trường có tay nghề vững lâu năm trong công tác, có nhiều kinh nghiệm, có ý thức tốt về trách nhiệm người giáo viên và sẵn sàng giúp đỡ đồng nghiệp về chuyên môn cũng như giúp nhau tháo gỡ những khó khăn hay xử lý các trường hợp học sinh cá biệt. - Học sinh lớp 3. Các em đa số còn rất ngoan, dễ vâng lời, nghe lời cô giáo, thích học tập và thi đua với các bạn, dễ khích lệ động viên khen thưởng. - Có được sự quan tâm về việc học tập của con em mình đa số phụ huynh có ý thức trách nhiệm không khoán trắng cho nhà trường cho giáo viên. Đã tích cực bắt tay với giáo viên trong việc học tập của con em mình như: Chuẩn bị đầy đủ sách vở, đồ dùng học tập, thường xuyên nhắc nhở và tạo điều kiện tốt cho con em mình đến lớp cũng như học tập ở nhà. * Hạn chế của biện pháp: - Với lứa tuổi của học sinh tiểu học, đặc biệt là học sinh học lớp 3, các em thường bắt chước hoặc ghi nhớ một cách máy móc và tư duy, lập luận của các em mới ở mức đơn giản nên khi gặp bài toán có lời văn với yêu cầu cao hơn cần tư duy và suy luận nhiều hơn các em sẽ trở nên lúng túng gặp nhiều khó khăn trong giải toán. Khi đọc xong đề bài các em chưa xác định được ý chính của đề bài, chưa tìm ra mối liên hệ giữa điều chưa biết với dữ kiện đã cho trong bài toán từ đó dẫn đến việc các em giải bài toán có lời văn đạt kết quả chưa cao. - Vốn Tiếng Việt của một số em còn hạn chế nên nhiều khi việc hiểu nghĩa của từ trong toán học đối với các em là rất khó, dẫn đến học sinh trả lời không chính xác. - Tranh ảnh minh họa cho môn Toán còn hạn chế. Giáo viên còn tự làm thêm đồ dùng dạy học để tạo sinh động cho tiết dạy, nên còn mất thời gian đầu tư. * Phương hướng khắc phục các hạn chế: - Chú trọng việc dạy học giải toán có lời văn. - Nắm vững quy trình giải toán có lời văn. - Tạo niềm hứng thú, sự say mê giải toán, bởi các em có thích học toán thì các em mới có sự suy nghĩ, tìm tòi các phương pháp giải bài toán một cách thích hợp. - Nắm bắt và hiểu rõ quan điểm xây dựng nội dung, chương trình hướng dẫn học Toán 3, đồng thời đổi mới phương pháp trong dạy học. - Theo dõi thường xuyên đến kết quả học tập trên lớp qua tinh thần, thái độ học tập của học sinh. - Nghiên cứu tài liệu, chuẩn bị đồ dùng học tập, hệ thống câu hỏi đưa ra khai thác bài toán hoặc kiểm tra học sinh khi các em giải xong bài toán - Quan tâm đồng đều đến từng đối tượng học sinh, nhất là học sinh yếu. - Kịp thời uốn nắn sửa sai cách làm bài, trình bày bài làm của học sinh. - Tăng cường sử dụng phương pháp, hình thức tổ chức dạy học phát huy tính tích cực của học sinh. - Giáo viên phải kiên trì, bền bỉ, nhiệt tình, hết lòng vì học sinh. * Khả năng triển khai rộng rãi biện pháp: - Trong quá trình nghiên cứu thực hiện biên pháp này và việc thực hiện những đổi mới phương pháp hình thức tổ chức dạy học khác nhau. Tôi hy
- 15 vọng sẽ góp phần làm cho chất lượng dạy học môn toán nói chung, giải toán có lời văn nói riêng ngày một nâng cao.Trong phạm vi thực hiện hạn hẹp lớp 3C3, tôi nghĩ rằng những bước cải tiến nhỏ bé của tôi được đón nhận những ý kiến góp ý chia sẻ, động viên, được áp dụng khi dạy toán có lời văn lớp Ba. Đối tượng là học sinh lớp 3 trường Tiểu học Minh Đức năm học 2024 - 2025. Và được áp dụng rộng rãi trong toàn huyện khối lớp 3. Xin trân trọng cảm ơn ! Thị trấn , ngày 28 tháng 10 năm 2024 Người viết Phùng Thuý Mai
- 16 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Sách giáo khoa, sách giáo viên môn Toán lớp 3 – Nhà xuất bản giáo dục 2006. 2. Thực hành phương pháp dạy học toán ở tiểu học – Nhà xuất bản Đà Nẵng 3. GS Đặng Vũ Hoạt : Giáo dục học tập 1, tập 2 – giáo trình đào tạo CĐSP và ĐHSP. Nhà xuất bản giáo dục. 4.Thành Thị Yến Mỹ – Lê Phương Nga Phương pháp dạy học tiếng Việt – giáo trình dùng trong các trường sư phạm đào tạo giáo viên tiểu học. 5. PGS Trương Dĩnh Phát triển ngôn ngữ cho học sinh phổ thông – Nhà xuất bản Đà Nẵng 6. PGS-PTS Lê Xuân Thại Tiếng Việt trong trường học – NXB Đại học quốc gia Hà Nội. 7. Tài liệu bồi dưỡng giáo viên dạy các môn học lớp 3
- 17 MỤC LỤC TÓM TẮT THÀNH TÍCH Trang 2 I. MỞ ĐẦU Trang 3 1. Lý do lựa chọn biện pháp Trang 3 2. Đối tượng áp dụng Trang 3 II. NỘI DUNG GIẢI PHÁP Trang 4 1. Mục tiêu của biện pháp: Trang 4 2. Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn để xây dựng biện pháp: Trang 4 2.1. Cơ sở lí luận: Trang 4 2.2. Cơ sở thực tiễn: Trang 5 3. Nội dung biện pháp: Trang 6 4. Cách thức/quy trình thực hiện biện pháp: Trang 7 5. Thực hiện biện pháp: Trang 11 III. THỰC NGHIỆM BIỆN PHÁP TẠI ĐƠN VỊ Trang 12 1. Đối tượng, nội dung, phương pháp thực nghiệm: Trang 12 2. Tiến trình thực nghiệm: Trang 12 3. Đánh giá kết quả thực nghiệm: Trang 13 IV. KẾT LUẬN, ĐỀ XUẤT Trang 14 * ưu điểm: Trang 14 * Hạn chế của biện pháp: Trang 14 * Phương hướng khắc phục các hạn chế: Trang 14 * Khả năng triển khai rộng rãi biện pháp: Trang 15 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO Trang 16 MỤC LỤC Trang 17
- 18 PHÒNG GD&ĐT HUYỆN TIÊN LÃNG HỘI THI GIÁO VIÊN DẠY GIỎI CẤP TRƯỜNG NĂM HỌC 2024-2025 PHIẾU ĐÁNH GIÁ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC Tên biện pháp: “Một số biện pháp giúp học sinh lớp 3 học tốt dạng toán có lời văn” Họ và tên người thực hiện: Phùng Thuý Mai Trường: Tiểu học Minh Đức . Họ và tên giám khảo: Đơn vị công tác: Trường tiểu học Minh Đức . Điểm Điểm TIÊU CHUẨN NỘI DUNG đánh tối đa giá 1 Giải quyết một vẩn đề có tính cấp thiết của thực tiễn giáo 1,0 Hiệu quả của dục. biện pháp 2 Phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh. 2,0 3 Góp phần bồi duỡng phẩm chất năng lực cụ thể cho học Đáp ứng yêu 2,0 sinh cầu đổi mới Có tính khoa học, hiện đại, đề cao vai trò chủ thể học tập giáo dục 4 1,0 của học sinh. 5 Đảm bảo phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất của nhà Phù hợp với đối 0,5 trường để giáo viên và học sinh có thể thực hiện được. tượng và nhà Lẩn đầu được áp dụng, có hiệu quả với cá nhân người thưc trướng 6 1,0 hiện. Các minh 7 Có các minh chứng phù hợp với biện pháp đã thực hiện. 0,5 chứng của biện Đảm bảo độ tin cậy, khoa học, logic với biện pháp thực 8 1,0 pháp hiện. 9 Báo cáo rõ ràng, đầy đủ, chính xác khoa học. Thuyết trình Trao đổi về 0,5 trong đúng thời gian cho phép. biện pháp 10 Trả lời đúng và hợp lí các câu hỏi của giám khảo. 0,5 Đánh giá chung: (Đạt: khi tổng điểm Giảm khảo chấm >6/10 . Ý kiến nhận xét: .................. ............... . Tiên Thắng, ngày tháng 10 năm 2024 GIÁM KHẢO (Họ tên và chữ ký giám khảo)

