Một số biện pháp giúp học sinh học tốt môn Toán Lớp 3
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Một số biện pháp giúp học sinh học tốt môn Toán Lớp 3", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
mot_so_bien_phap_giup_hoc_sinh_hoc_tot_mon_toan_lop_3.doc
Nội dung tài liệu: Một số biện pháp giúp học sinh học tốt môn Toán Lớp 3
- ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐOÀN LẬP HỘI THI GIÁO VIÊN DẠY GIỎI CẤP HUYỆN NĂM HỌC 2024 – 2025 BÁO CÁO BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH HỌC TỐT MÔN TOÁN LỚP 3 TÁC GIẢ: NGUYỄN THỊ KIM PHƯỢNG Giáo viên trường: Tiểu học Đoàn Lập, huyện Tiên Lãng Tổ chuyên môn: Tổ 3 Tiên Lãng, tháng 11 năm 2024
- 2 MỤC LỤC STT Nội dung Trang I Mở đầu 1 1 Lí do lựa chọn biện pháp 2 2 Đối tượng áp dụng 3 II NỘI DUNG BIỆN PHÁP 4 1 Mục tiêu biện pháp 4 2 Cơ sở lí luận và thực tiễn 4 3 Nội dung biện pháp 6 4 Cách thức/ quy trình thực hiện biện pháp 6 III THỰC NGHIỆM BIỆN PHÁP TẠI ĐƠN VỊ 14 IV KẾT LUẬN, ĐỀ XUẤT 15 V DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 18 VI PHỤ LỤC 19
- 3 I. MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn biện pháp Toán học là một mảng kiến thức xuyên suốt quá trình học toán của học sinh. Nó không chỉ truyền thụ và rèn luyện kỹ năng kỹ xảo tính toán để giúp các em học tốt môn khác mà còn giúp các em rèn luyện trí thông minh, óc tư duy sáng tạo, khả năng tư duy lô gic, làm việc khoa học. Vì vậy chúng ta cần phải quan tâm tới việc dạy toán ở Tiểu học. Trong chương trình giáo dục phổ thông, môn Toán có vai trò quan trọng cùng với các môn học khác đào tạo ra những con người phát triển toàn diện. Môn toán ở tiểu học bước đầu hình thành và phát triển năng lực, kích thích trí tưởng tượng, gây hứng thú học. Môn toán là ''chìa khoá'' mở cửa cho tất cả các ngành khoa học khác, là bộ môn không thể thiếu được trong nhà trường, đây là những tri thức, kỹ năng vừa đáp ứng cho phát triển trí tuệ, óc thông minh, sáng tạo,vừa đáp ứng cho việc ứng dụng thiết thực trong cuộc sống hàng ngày, để các em trở thành những người có ích cho xã hội. Chương trình toán lớp 3 được coi là tiền đề, nền tảng góp phần thực hiện mục tiêu toán tiểu học. Học sinh lớp 3 là những học sinh đang ở giai đoạn đầu tiểu học. Ở lứa tuổi này, các em hiếu động, thích khám phá kiến thức mới nhưng cũng rất dễ bị phân tán, mất gốc kiến thức. Thực tế không phải tất cả các em học sinh đều nắm được kiến thức toán đã học và biết vận dụng kiến thức đó vào thực hành. Trong bất cứ trường Tiểu học nào hay lớp học nào cũng tồn tại thực trạng một bộ phận học sinh thiếu kĩ năng toán, thậm chí là chưa đạt chuẩn về kiến thức, kĩ năng môn Toán. Nếu học sinh yếu toán cũng là đồng nghĩa với việc các em phát triển chưa trọn vẹn nó ảnh hưởng đến tương lai của chính bản thân các em và cả xã hội. Vậy làm thế nào để giúp học sinh yếu lớp 3 học tốt môn Toán? Chính từ những lí do trên, tôi mạnh dạn áp dụng: “Một số biện pháp giúp học sinh học tốt môn Toán lớp 3.” 2. Đối tượng áp dụng
- 4 Giáo viên Trường Tiểu học Đoàn Lập, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng. II. NỘI DUNG BIỆN PHÁP 1. Mục tiêu biện pháp - Giúp học sinh hứng thú hơn với môn Toán. - Cải thiện khả năng tư duy và giải quyết vấn đề thông qua các bài toán thực tiễn. - Đề xuất một số biện pháp giúp học sinh chưa đạt chuẩn kiến thức, kĩ năng lớp 3 khắc phục khó khăn khi học toán, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học Toán ở Tiểu học. 2. Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn để xây dựng biện pháp 2.1. Cơ sở lí luận Trong công cuộc đổi mới của đất nước, Đảng ta đã vạch ra những chủ trương, đường lối, chính sách sáng suốt nhằm đưa nước ta thành một nước Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa. Nghị quyết Trung ương II, khóa VIII, đã khẳng định: “Muốn Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa đất nước thì nguồn nhân lực con người là yếu tố hàng đầu, để thực hiện mục tiêu này”. Do đó, phát triển giáo dục là nền tảng tạo nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những động lực thúc đẩy sự Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa, là yếu tố cơ bản để phát triển xã hội. Chính vì lẽ đó ở Tiểu học, môn Toán chiếm thời lượng rất lớn, hơn nữa việc đặc trưng của bộ môn; môn Toán có ưu thế lớn trong việc phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo, tự giác của học sinh. Xuất phát từ đặc điểm tâm sinh lý của học sinh Tiểu học: "Học sinh Tiểu học luôn luôn hiếu động, ham chơi thích cái mới lạ nhưng lại chóng chán". Đối với trẻ trò chơi là một phát hiện mới, kích thích tò mò, muốn tìm hiểu, khám phá. Do vậy quan điểm: “Thông qua hoạt động vui chơi để tiến hành hoạt động học tập” là phù hợp với học sinh trường tiểu học. Trò chơi toán học nhằm mục đích là thông qua trò chơi để củng cố kiến thức của bài học, luyện tập lại kiến thức của bài mới, phát hiện ra kiến thức mới của bài học. Trong quá trình học toán ở Tiểu học, sử dụng trò chơi toán học có nhiều tác dụng như sau: Giúp học sinh thay đổi loại hình hoạt động trong giờ học, làm cho giờ học bớt căng thẳng, tạo cảm giác thoải mái, dễ chịu. Học sinh tiếp thu kiến thức nhẹ nhàng, học sinh ham học và gây hứng thú trong học tập. Kích thính sự tìm tòi, tạo cơ hội để học
- 5 sinh tự thể hiện mình. Thông qua trò chơi, học sinh vận dụng kiến thức năng nổ, hoạt bát, kích thích trí tưởng tượng, trí nhớ. Từ đó phát triển tư duy mềm dẻo, học tập cách xử lý thông minh trong những tình huống phức tạp tăng cường khả năng vận dụng trong cuộc sống để dễ dàng thích nghi với điều kiện mới của xã hội. Vì vậy trò chơi toán học rất cần thiết trong giờ học toán ở Tiểu học. 2.2. Cơ sở thực tiễn * Thuận lợi: - Nhà trường được sự quan tâm của chính quyền địa phương, của hội phụ huynh học sinh. - Ban giám hiệu nhà trường nhiệt tình, sáng tạo luôn chỉ đạo sát sao việc dạy học của giáo viên và học sinh. - Đội ngũ giáo viên trong trường luôn nhiệt tình giảng dạy, yêu nghề mến trẻ . - Về học sinh: nhìn chung các em đều ngoan, có ý thức vươn lên trong học tập. * Khó khăn Sự chưa đạt chuẩn về kiến thức, kĩ năng Toán ở học sinh được biểu hiện bằng nhiều hình nhưng nhìn chung các em yếu Toán thường có các đặc điểm sau đây: - Các em có nhiều “lỗ hổng” kiến thức, kỹ năng trong học Toán nhất là các kỹ năng tính toán cơ bản, cần thiết (cộng, trừ, nhân, chia). - Các em tiếp thu bài còn chậm, chưa tự giác học, chưa có động cơ học tập. Khả năng chú ý và tập trung vào bài giảng của giáo viên không bền. Ở nhà các em chưa tự giác ôn bài, làm bài, chưa lập được thời gian biểu hằng ngày. - Phương pháp học tập Toán của các em chưa tốt. Khả năng phân tích tổng hợp, so sánh còn hạn chế, chưa mạnh dạn trong học tập do hiểu chưa sâu, nắm kiến thức chưa chắc, thiếu tự tin. - Các nghiên cứu cho thấy rằng việc kết nối kiến thức với thực tế giúp học sinh nhớ lâu và hiểu sâu hơn. 3. Nội dung biện pháp Biện pháp 1. Giúp học sinh thấy được ứng dụng quan trọng, hữu ích của môn toán trong cuộc sống hàng ngày
- 6 Biện pháp 2. Trang bị những công thức, quy tắc, kỹ năng giải toán Biện pháp 3. Tổ chức cho học sinh ôn tập, củng cố kiến thức từng chương qua các trò chơi: Biện pháp 4. Đổi mới đánh giá; động viên, khích lệ học sinh kịp thời 4. Cách thức/quy trình thực hiện biện pháp Biện pháp 1. Giúp học sinh thấy được ứng dụng quan trọng, hữu ích của môn toán trong cuộc sống hàng ngày. Ngay từ đầu năm học, tôi cho các em tìm hiểu mục lục sách giáo khoa toán lớp 3. Sau đó, tôi giới thiệu về những nội dung chính trong chương trình toán lớp 3 để kích thích sự tò mò, khám phá của các em. Ví dụ: Tôi giới thiệu về ứng dụng kì diệu và ý nghĩa của phép tính nhân, chia trong cuộc sống. Hoặc khi giới thiệu về phần hình học, tôi cho các em tìm những đồ vật có dạng hình vuông, hình tròn, hình chữ nhật, hình tam giác mà các em biết. Hoạt động này giúp các em thấy toán học thật gần gũi với cuộc sống. Tôi giới thiệu thêm: Ở lớp dưới, các em đã biết nhận diện và gọi tên các hình đó. Chương trình Toán 3 sẽ giúp các em khám phá thêm những đặc điểm thú vị của chúng. Những đặc điểm thú vị đó đang chờ các em khám phá đấy. Qua những lời giới thiệu ấy, tôi thấy rõ sự tò mò, sự hào hứng hiện lên trong ánh mắt của các em. Việc tạo động cơ học tập cho học sinh không chỉ dừng lại ở đó mà trong mỗi tiết học toán, tôi còn thiết kế thêm một số bài tập, tình huống liên quan đến thực tế. Ví dụ: Khi học “Bài 5: Bảng nhân 3, bảng chia 3 (SGK Toán 3, trang 16) ở phần khởi động thay vì cho học sinh hát hay chơi 1 trò chơi vận động thì tôi tạo động cơ học tập bằng cách cho học sinh xem 1 đoạn phim hoạt hình về 1 tình huống thực tế. Tôi đưa ra bài toán: Mỗi xe xích lô có 3 bánh. Hỏi 4 xe xích lô có mấy bánh? Sau đó, tôi dẫn dắt học sinh vào bài mới bằng việc tích hợp công nghệ AI, cho HS nghe video từ đó dẫn dắt, gợi ý học sinh tìm ra phép tính thích hợp.
- 7 Bên cạnh đó, tôi thận trọng trong việc giao các nhiệm vụ học tập cho các em ở trên lớp và ở nhà để đảm bảo các em có đủ thời gian hoàn thành bài tập được giao (Chia nhỏ các nhiệm vụ học tập để các em dễ dàng giải quyết). Từ những việc làm cụ thể và tỉ mỉ đó, tôi đã giúp học sinh dần hình thành động cơ học tập đúng đắn. Các em đã tích cực, chủ động hơn trong việc chiếm lĩnh kiến thức. Đây không chỉ là một việc làm thiết thực để tạo hứng thú học toán mà còn có giá trị gắn kết toán học với cuộc sống và mang cuộc sống vào trong toán học.
- 8 Biện pháp 2. Trang bị những công thức, quy tắc, kỹ năng giải toán Đây là vấn đề vô cùng quan trọng trong việc truyền tải kiến thức cho học sinh, thay thế việc giáo viên áp đặt kiến thức cho học sinh buộc học sinh phải thuộc lòng những điều giáo viên thuyết trình (phương pháp dạy học truyền thống) bằng việc giáo viên là người dẫn dắt các em tự mình tìm tòi khám phá kiến thức mới (phương pháp dạy học tích cực). Trong quá trình giảng dạy giáo viên cần vận dụng triệt để biện pháp này vì học sinh muốn giải được các bài toán thì cần phải được trang bị đầy đủ những kiến thức có liên quan đến việc giải toán mà những kiến thức này chủ yếu được cung cấp qua các tiết lý thuyết. Do vậy dưới sự dẫn dắt của giáo viên, học sinh cần tìm ra được cách giải bài toán và cần phải được chính xác hóa nhờ sự giúp đỡ của giáo viên. Qua quá trình tự tìm tòi, khám phá kiến thức mới dựa trên những cái đã biết giúp các em hiểu sâu hơn, nhớ lâu kiến thức ấy hơn nếu như tự mình tìm ra kiến thức ấy Học sinh cần nắm chắc quy tắc, công thức tính, các bước tính của một phép tính từ đó mới rèn luyện được kỹ năng tính toán. Ví dụ: Khi hình thành bảng nhân 4 trong phần khám phá cho học sinh, giáo viên hướng dẫn học sinh quy tắc chuyển tổng thành tích như sau: - Lấy tấm thẻ có 4 chấm tròn và hỏi học sinh: + Cô có mấy chấm tròn? + 4 chấm tròn được lấy mấy lần? - 4 chấm tròn được lấy 1 lần, cô có phép nhân: 4 x 1 = 4 Từ đó dẫn dắt học sinh hình thành bảng nhân 4 như sau:
- 9 Tôi thường xuyên vận dụng tích hợp kĩ năng công dân số trong một số tiết toán trong bài dạy của tôi, đặc biệt là tiết toán bài 33: Nhiệt độ. Đơn vị đo nhiệt độ, sgk toán 3,trang 92. Trước khi học bài này, tôi giao hs về nhà mượn điện thoại hoặc máy tính của bố mẹ hay nhờ bố mẹ tra cứu thông tin nhận biết về nhiệt kế, theo dõi thời tiết các vùng miền.( Lưu ý trong khi giao nhiệm vụ, tôi sẽ hướng dẫn HS cách tra cứu thông tin, địa chỉ tìm thông tin tin cậy, phù hợp với lứa tuổi và có sự hướng dẫn của người thân). Biện pháp 3. Tổ chức cho học sinh ôn tập, củng cố kiến thức từng chương qua các trò chơi: Trò chơi học tập là trò chơi gắn liền với các hoạt động học tập và nội dung bài học giúp học sinh khai thác kinh nghiệm vốn có của bản thân để chơi và để học. Trong quá trình chơi trò chơi các em sẽ bộc lộ nhiều cảm xúc rất rõ ràng như: niềm vui khi thắng và buồn bã khi thua; vui mừng khi đồng đội hoàn thành nhiệm vụ, bản thân cảm thấy có lỗi khi không làm tốt nhiệm vụ của mình. Vì tập thể mà cố gắng hết khả năng để mang lại chiến thắng cho tổ, nhóm của mình. Đây cũng chính là đặc tính thi đua rất cao của trò chơi học tập. Đặc biệt, đối với môn toán thì trò chơi học tập càng có ý nghĩa quan trọng hơn trong việc tạo hứng thú học toán cho học sinh nhất là đối với học sinh học toán chưa tốt. Hình thức ôn tập này, giúp các em ôn tập, củng cố kiến thức một cách nhẹ nhàng, hứng thú và hiệu quả. Thời gian qua, tôi đã tổ chức cho các em học Toán
- 10 “ Vui – học, Học – vui” qua các trò chơi sau: Trò chơi “ Hái hoa dân chủ”, Trò chơi “ Chọn số”, Trò chơi “Xem ai nhớ nhất”, Trò chơi “ Mặt xanh mặt đỏ”, Trò chơi “ Ai nhanh, ai đúng” Học Toán qua các trò chơi, học sinh tham gia sôi nổi, hào hứng và có sự tiến bộ rõ rệt. Ví dụ: Trò chơi “ Hái hoa dân chủ” dùng để ôn tập cho học sinh sau mỗi chương học. Hình thức ôn tập này, câu hỏi và bài tập là những kiến thức các em đã học, học sinh lần lượt lên hái hoa (có ghi nội dung câu hỏi hoặc bài tập) học sinh trả lời đúng nội dung câu hỏi, cả lớp và thầy cô vỗ tay khen ngợi. Hình thức ôn tập này giúp các em ôn tập, củng cố kiến thức một cách nhẹ nhàng, hứng thú và hiệu quả. Ví dụ: Khi dạy bài Phép cộng ( có nhớ) trong phạm vi 1000 ( SGK Toán 23 Kết nối tri thức và cuộc sống) tôi tổ chức cho học sinh chơi trò chơi “ Giải cứu Bạch Tuyết” như sau: Tên trò chơi: Giải cứu Bạch Tuyết Mục đích - Rèn luyện kĩ năng thực hiện các phép tính cộng có nhớ số có hai chữ số với số có một chữ số - Rèn kĩ năng phản xạ nhanh cho học sinh Chuẩn bị: Giáo viên thiết kế trò chơi trên Powerpoint gồm 1 bức tranh có hình nàng Bạch Tuyết và 4 ô cửa bí mật. Các ô cửa có chứa đề bài như sau: - Ô cửa 1: 245 + 456 = ? - Ô cửa 2: 300 + 700 - Ô cửa 3: Số hạng thứ nhất là 450, số hạng thứ hai là số nhỏ nhất có ba chữ số. Tổng hai số đó là: - Ô cửa 4: Tìm x: x - 17 = 545 Cách chơi - Trò chơi này, tôi tổ chức cho cả lớp cùng tham gia. Học sinh nào giơ tay nhanh sẽ được quyền trả lời.
- 11 - Giới thiệu trò chơi như sau: Các em ạ! Mụ phù thủy độc ác nham hiểm đã nhốt nàng Bạch Tuyết ở một nơi bí mật. Để giải cứu được nàng Bạch Tuyết chúng mình phải hành trình mở lần lượt 4 ô cửa bí mật này. Mỗi ô cửa đều có chứa 1 phép tính hoặc 1 bài toán. Sau khi mở được 4 ô cửa nàng Bạch Tuyết sẽ được giải cứu. Các em có muốn giúp nàng Bạch Tuyết không nào? Trò chơi học tập được sử dụng như một phương pháp tổ chức cho học sinh thực hành, luyện tập một kĩ năng nào đó trong chương trình môn học. Đây là một phương pháp có tác dụng hòa đồng sâu rộng và thu hút mức độ tập trung của học sinh mà ít có phương pháp nào sánh kịp. Tuy nhiên, trong một tiết học chúng ta phải cho tất cả các em hoạt động cho dù học sinh yếu hay giỏi bằng nhiều cách để lôi cuốn các em tham gia vào hoạt động học, trách tình trạng giáo viên để học sinh ngoài lề. Ví dụ trong một tiết học đến phần bài tập giáo viên phân ra từng đối tượng học sinh. Bài tập 1 cho nhóm yếu làm, bài 2 nhóm trung bình, bài 3 nhóm khá giỏi. Như vậy hy vọng mới khắc phục dần tình trạng học sinh yếu. Nếu giáo viên cứ cho học sinh hoạt động bình thường từ bài 1 đến bài 3-4 thì học sinh yếu không biết gì và thậm chí bỏ học vì chán. Hoặc trong lớp học có học sinh yếu (không nắm kiến thức lớp học dưới) với đối tượng này khi dạy giáo viên lưu ý : trong phần bài mới cho học sinh theo dõi bình thường, đến phần bài tập, hay là tiết luyện tập giáo viên cho những đối tượng này làm các bài tập mà kiến thức liên quan lớp dưới, học cho học sinh nhắc lại kiến thức cũ. Ví dụ: Khi dạy tiết luyện tập trang 80 sgk toán tập 1. Tôi tổ chức cho học sinh chơi trò chơi “ Bay khắp trời xanh” vào hoạt động khởi động.
- 12 Ví dụ khi học sinh làm sai bài tập này thì chứng tỏ học sinh không nắm được quy tắc gấp lên một số lần và giảm đi một số lần. Vậy giáo viên cần hướng dẫn kĩ càng hơn cho học sinh . Nói chung học sinh hổng kiến thức ở đâu thì giáo viên phải có kế hoạch ôn tập, bổ sung ở đó. Bên cạnh đó, trong buổi sinh hoạt chuyên môn hàng tháng (2 tuần/lần) giáo viên báo cáo tiến độ tiếp thu bài của những học sinh yếu cho Tổ và giáo viên trong tổ, từ đó giáo viên nào còn vướng mắc thì được tập thể giáo viên trong tổ góp ý bổ sung, chia sẻ cho nhau các biện pháp hay, hiệu quả. Biện pháp 4. Đổi mới đánh giá; động viên, khích lệ học sinh kịp thời Khen ngợi là một phần thưởng tinh thần to lớn đối với học sinh tiểu học. Lời khen giúp các em tạo động lực và cải thiện kết quả học tập. Hiện nay, cả giáo viên và phụ huynh đều đánh giá cao sự khích lệ, động viên học sinh của thông tư 27. Việc động viên, khích lệ học sinh kịp thời sẽ giúp học sinh tự tin, nhân cách của học sinh ngày càng được kiện toàn, hành vi tích cực sẽ được phát huy. Ngược lại, phê bình, trách mắng, chỉ trích làm cho lòng tự trọng của trẻ bị tổn thương. Trong quá trình dạy học, để tạo động lực, nâng cao chất lượng học tập cho học sinh, tôi đã thực hiện khen thưởng như sau: * Có chế độ thi đua khen thưởng: Thay đổi hình thức khen thưởng bằng cách tặng điểm cộng cho học sinh ngay khi trả lời đúng, có cố gắng, có tiến bộ. Quy định đủ 10 sao thì đổi được
- 13 một điểm tốt. Cuối mỗi tháng sẽ tổng kết điểm tốt, ai được nhiều điểm tốt sẽ có quà. Quà cô ghi sổ và sẽ gửi được gửi tới nhà cho các em. Cuối buổi học, luôn cho học sinh bình chọn 3 bạn tích cực nhất và tặng điểm cộng. * Làm phiếu khen cuối tuần Thiết kế phiếu khen học sinh tiến bộ, trình bày đẹp, tính toán nhanh, tặng cho các em kèm theo lời nhắn nhủ. Cuối tuần giáo viên khen thưởng học sinh trước lớp để các em có động lực cố gắng. * Đối với những học sinh chưa tích cực, chưa hoàn thành trong tiết học, học sinh chậm tiến. Giáo viên cần linh hoạt giảm nhẹ nội dung yêu cầu cần đạt, khuyến khích học sinh hoàn thành mức yêu cầu từ thấp đến cao. Tuyên dương trước những thay đổi nhỏ của các em, để các em có nghị lực hoàn thành các yêu cầu học tập. * Quay video nội dung trọng tâm bài học thời lượng chỉ 5 – 10 phút gửi lên nhóm zalo. Sau mỗi buổi học, giáo viên cần chọn và quay video kiến thức trọng tâm cần ghi nhớ của mỗi bài gửi lên nhóm lớp cho HS xem lại nếu sau bài học vẫn chưa nắm chắc kiến thức. Các buổi học, giáo viên cần linh hoạt công tác đánh giá học sinh theo phương pháp tự học, giải quyết vấn đề, vận dụng kiến thức để tham gia các hoạt
- 14 động trò chơi qua các ứng dụng phần mềm Trong quá trình dạy, giáo viên luôn kiểm tra, theo dõi, giám sát tiến trình hoạt động, kết quả của các hoạt động của từng học sinh để có sự động viên khuyến khích hay giúp đỡ kịp thời. Bước đầu, những đổi mới này đã đem lại hiệu quả, đồng thời giúp học sinh thích thú, khám phá, nghiên cứu và tìm hiểu các vấn đề, kiến thức trước khi tham gia lớp học. Đánh giá kết quả học tập của học sinh không chỉ có giáo viên là người “ Cầm cân nảy mực” mà nên cho học sinh tham gia vào việc đánh giá kết quả học tập của bạn cũng như của bản thân mình. III. THỰC NGHIỆM BIỆN PHÁP TẠI ĐƠN VỊ 1. Đối tượng, nội dung, phương pháp thực nghiệm a. Đối tượng thực nghiệm - Học sinh lớp 3A trường Tiểu học Đoàn Lập, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng, năm học 2023-2024. b. Nội dung thực nghiệm - Dựa trên thực tiễn giảng dạy, giáo viên thực hiện các biện pháp đã nêu nhằm nâng cao chất lượng môn toán lớp 3. Sau đó khảo sát và đánh giá kết quả thực hiện. c. Phương pháp thực nghiệm Trong quá trình nghiên cứu tôi vận dụng và phối hợp các phương pháp sau: - Phương pháp nghiên cứu tài liệu - Phương pháp nghiên cứu bằng điều tra, quan sát. - Phương pháp tổng kết kinh nghiệm. - Phương pháp thực nghiệm thống kê kết quả. - Phương pháp điều tra thực trạng. - Phương pháp thực hành 2. Tiến trình/ tổ chức thực nghiệm Tiến hành thực nghiệm nghiên cứu trong năm học 2023-2024, cụ thể: Lớp vẫn thực hiện theo Kế hoạch dạy học các môn học/HĐGD và Kế hoạch dạy học của tổ chuyên môn 3 để đảm bảo tính khách quan, tự nhiên. *Trước khi thực nghiệm tôi tiến hành khảo sát: kết quả như sau: Lớp Sĩ số Hoàn thành tốt Hoàn thành Chưa HT
- 15 3A 32 12 em 17 em 3 em *Sau khi thực nghiệm kết quả thu được như sau: Lớp Sĩ số Hoàn thành tốt Hoàn thành Chưa HT 3A 32 18 em 14 em 0 em Kết quả sau khi áp dụng biện pháp của lớp thực nghiệm số học sinh Hoàn thành tốt tăng nhiều (6 học sinh), HS hoàn thành giảm ( 3 em) và không có số học sinh chưa hoàn thành. Điều đó chứng tỏ mức độ ảnh hưởng của tác động là rất lớn. 3. Đánh giá kết quả thực nghiệm Sau khi áp dụng các biện pháp phụ đạo, nâng bậc học sinh yếu, thực tế cho thấy : Các em có ý thức hơn trong việc học Toán. Học sinh phấn khởi, tự tin hơn trong các tiết học. Các em thích học Toán, hăng hái phát biểu ý kiến xây dựng bài. Kết quả học tập Toán có tiến bộ rõ rệt. Qua hiểu biết của các em, sự chiếm lĩnh kiến thức của các em, giáo viên cũng như cha mẹ học sinh biết được các em có được gì, cần gì, và chúng ta phải làm gì cho học sinh. Vì vậy, khi phụ đạo cho các em yếu Toán, chúng ta cần kiên trì, nhẫn nại, không nôn nóng, giống như “mưa dầm thấm lâu” do đó, dạy đến đâu cần cho trẻ nắm chắc đến đấy nhằm giúp các em đạt được kết quả học Toán theo mong muốn. IV. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 1. Kết luận Qua quá trình thực nghiệm nghiên cứu đề tài “Một số biện pháp giúp học sinh học tốt môn Toán lớp 3.” Bản thân tôi nhận thấy: Là người giáo viên nói chung và Giáo viên dạy tiểu học nói riêng phải luôn học hỏi kinh nghiệm, tự học để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tự cập nhật kiến thức thông tin để đáp ứng kịp thời sự phát triển của ngành Giáo dục và của toàn xã hội. Hướng dẫn học sinh có kiến thức và kỹ năng toán, giúp các em tránh sai sót, phát triển tư duy, óc sáng tạo, tăng hứng thú học toán cho học sinh, đòi hỏi giáo viên thực hiện tốt các yêu cầu sau:
- 16 - Phải nghiên cứu kỹ bài dạy, xác định đúng kiến thức của bài, thiết kế kế hoạch bài học phù hợp với trình độ của học sinh lớp mình phụ trách. Tổ chức hoạt động dạy học theo hướng tích cực hóa người học. Sau mỗi bài cần nhấn mạnh, khắc sâu kiến thức cơ bản trọng tâm và đề ra phương pháp vận dụng thực hành chung cho từng dạng toán. - Khi dạy toán cần rèn cho học sinh đọc kỹ đề bài, hiểu đề bài, nhận biết được dữ liệu đã cho và yêu cầu cần tìm trong mỗi bài toán, nhận biết mối quan hệ giữa các đại lượng trong bài. Hiểu và nhận biết được các từ, thuật ngữ, khái niệm toán học Biết tóm tắt và giải toán bằng sơ đồ, hình vẽ. - Rèn luyện cho học sinh kỹ năng quan sát, suy luận để giải bài toán. Dựa trên sơ đồ tóm tắt, trên cơ sở đó giáo viên gợi ý để học sinh tự tìm cách giải bằng việc định hướng, giúp học sinh phát hiện vấn đề và tìm cách giải quyết vấn đề. Điều cần lưu ý ở đây là giáo viên tuyệt đối không làm thay học sinh, mà cần kích thích học sinh suy nghĩ làm việc. Rèn luyện cho học sinh khả năng trình bày giải toán sao cho ngắn gọn và đúng với mục tiêu của bài toán. - Thường xuyên hệ thống, củng cố lại kiến thức thông qua các tiết ôn tập, luyện tập để rèn luyện kĩ năng giải toán cho học sinh. Từ đó giúp các em nhận dạng dễ dàng và nắm vững phương pháp, cách giải của từng loại toán có lời văn. Trên đây chỉ là nhận định của bản thân tôi trong quá trình thực hiện biện pháp.Vì vậy những khó khăn sai sót khi dạy học giải toán có lời văn vẫn còn xảy ra. Từ thực tế trên, những biện pháp khắc phục mà bản thân tôi đưa ra cũng chỉ từ thực tế mà tôi đã đúc kết được ở những năm học trước. Kết quả từ những biện pháp khắc phục nêu trên để giúp học sinh yếu, kém và các học sinh khác hiểu rõ, nhớ lâu các kiến thức và vận dụng linh hoạt vào việc giải toán đặc biệt là các bài toán có lời văn ở lớp 3, học sinh không còn cảm thấy lúng túng, khó khăn khi phải đối diện với các bài toán có lời văn. Ngoài ra còn rèn luyện được cho các em khả năng tư duy độc lập, suy luận hợp logic, có căn cứ, làm việc có kế hoạch, sáng tạo đã góp phần thực hiện hoàn thành mục tiêu của môn toán ở tiểu học hiện nay.
- 17 2. Đề xuất - Về phía Ban giám hiệu nhà trường: Bên cạnh tranh ảnh, đồ dùng dạy học tự làm, nhà trường bổ sung, trang bị thêm các thiết bị dạy học hiện đại để phục vụ hiệu quả trong công tác giảng dạy. - Về phía giáo viên: Cần chủ động, tích cực nghiên cứu bài dạy, tài liệu, nâng cao trình độ tin học để ứng dụng CNTT hiệu quả trong mỗi tiết học. Đặc biệt mỗi giáo viên cần tự ý thức được việc tự làm mới mình, nâng cao khả năng của mình, mạnh dạn đổi mới phương pháp dạy học để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của giáo dục trong thời kì mới. Trên đây là “Một số biện pháp giúp học sinh học tốt môn Toán lớp 3” của bản thân tôi. Rất mong nhận được những ý kiến góp ý của hội đồng đánh giá để tôi có thêm kinh nghiệm trong quá trình thực hiện và giảng dạy. Tôi xin chân thành cảm ơn! Đoàn Lập, ngày 25 tháng 11 năm 2024 XÁC NHẬN CỦA HIỆU TRƯỞNG TÁC GIẢ (Ký tên, đóng dấu) (Ký, ghi rõ họ tên) Nguyễn Thị Kim Phượng
- 18 TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Dự án mô hình trường học mới VNEN (2013), Hướng dẫn học Toán 3. 2. Đỗ Trung Hiệu, Đỗ Đình Hoan, Vũ Dương Thụy, Vũ Quốc Chung (2005), Phương pháp dạy học môn toán tiểu học, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội. 3. Đào Nãi (2010), Một số vấn đề về môn toán bậc tiểu học (tập 2), NXB Giáo dục. 4. Đỗ Đình Hoan, Nguyễn Áng (2007), Hỏi - đáp về dạy toán 3, NXB Giáo dục. 5. Trường đoàn Lý Tự Trọng (2011), Phương pháp tổ chức trò chơi sinh hoạt tập thể. 6. Các sách, báo, tài liệu nghiệp vụ khác. PHỤ LỤC GIÁO ÁN MINH HỌA TIẾT 18: TOÁN BẢNG NHÂN 6, BẢNG CHIA 6 I. YÊU CẦU CẦN ĐẠT: 1. Kiến thức, kĩ năng: - Hình thành được bảng nhân 6, bảng chia 6.
- 19 - Vận dụng được vào tính nhẩm, giải bài tập, bài t- Phát triển năng lực lập luận, tư duy toán học, năng lực giao tiếp toán học, giải quyết vấn đề... 2. Năng lực chung. - Năng lực tự chủ, tự học: lắng nghe, trả lời câu hỏi, làm bài tập. - Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo: tham gia trò chơi, vận dụng. - Năng lực giao tiếp và hợp tác: hoạt động nhóm.oán thực tế liên quan đến bảng nhân 6, bảng chia 6. 3. Phẩm chất. - Phẩm chất nhân ái: Có ý thức giúp đỡ lẫn nhau trong hoạt động nhóm để hoàn thành nhiệm vụ. - Phẩm chất chăm chỉ: Chăm chỉ suy nghĩ, trả lời câu hỏi; làm tốt các bài tập. - Phẩm chất trách nhiệm: Giữ trật tự, biết lắng nghe, học tập nghiêm túc. II. ĐỒ DÙNG DẠY HỌC - Kế hoạch bài dạy, bài giảng Power point. - SGK và các thiết bị, học liệu phụ vụ cho tiết dạy. III. HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh 1. Khởi động: - Mục tiêu: + Tạo không khí vui vẻ, khấn khởi trước giờ học. + Kiểm tra kiến thức đã học của học sinh ở bài trước. - Cách tiến hành: - GV tổ chức trò chơi “Giúp ong về tổ” để - HS tham gia trò chơi, Trả lời khởi động bài học. bằng bảng con. + Câu 1: 5 x 6 = .... - HS Trả lời: A. 30 B. 24 C. 20 D. 35 + Câu 1: A + Câu 2: 36 : 4 = ..... A. 6 B. 7 C. 8 D. 9 + Câu 2: D + Câu 3: 0 : 7 = ..... A. 1 B. 0 C. 7 D. 10 + Câu 3: B + Câu 4: Có 6 hộp bút, mỗi hộp có 4 cái. Vậy có tất cả . cái bút: + Câu 4: C A. 2 B. 10 C. 24 D. 20 + Câu 5: 8 cái bàn có mấy cái chân? Biết 1 cái bàn có 4 chân. + Câu 5: D A. 32 cái bàn B. 36 cái bàn C. 36 cái chân D. 32 cái chân - GV Nhận xét, tuyên dương. - HS lắng nghe. - GV dẫn dắt vào bài mới - HS lắng nghe.
- 20 Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh 2. Khám quá - Mục tiêu: - Hình thành được bảng nhân 6, bảng chia 6 - Phát triển năng lực lập luận, tư duy toán học, năng lực giao tiếp toán học, giải quyết vấn đề... - Cách tiến hành: a/- Cho HS quan sát hình ảnh và cho biết: - HS quan sát và trả lời: Mỗi con bọ rùa có mấy chấm ở cánh? ... có 6 chấm - Đưa bài toán: “Mỗi con bọ rùa có 6 chấm ở -HS nghe cánh. Hỏi 4 con bọ rùa như vậy có bao nhiêu chấm ở cánh?” -GV hỏi: -HS trả lời + Muốn tìm 4 con bọ rùa như vậy có bao + .. 6 x 4 nhiêu chấm ở cánh ta làm phép tính gì? + Vậy theo em “ 6 x 4” bằng bao nhiêu? Vì + 6 x 4 = 24 sao? Vì 6+6+6+6 = 24 nên 6 x 4 = 24 -HS nêu phép tính: - Từ phép nhân 6 x 4 = 24, em hãy nêu phép 24 : 6 = 4 chia có số chia bằng 6. -HS nghe - GV chốt: Quan bài toán, các em đã biết cách tính được một phép nhân trong bảng nhân 6 (6 x 4 = 24) và một phép chia trong bảng chia 6 -HS trả lời (24 : 6 = 4) + 6 x 1 = 6 b/ - GV yêu cầu HS tìm kết quả của phép + 6 x 2 = 12 nhân: + Thêm 6 vào kết quả của 6 x 1 + 6 x 1 = ? ta được kết quả của 6 x 2 + 6 x 2 = ? - HS viết các kết quả còn thiếu + Nhận xét kết quả của phép nhân 6 x 1 và 6 x trong bảng nhân 6 2 - HS viết các kết quả còn thiếu + Thêm 6 vào kết quả của 6 x 2 ta được kết trong bảng chia 6 quả của 6 x 3 để tìm ra kết quả của các phép nhân còn lại -HS nghe + GV YC HS dựa vào bảng nhân, hoàn thành -HS quan sát là nhận xét: bảng chia 6 bằng cách viết số còn thiếu ở ô có + Tích của các phép nhân là dãy dấu “?” trong bảng chia 6 số cách đều 6 đơn vị. - GV Nhận xét, tuyên dương + Tích của phép nhân là số bị

