Sáng kiến kinh nghiệm đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực hứng thú học Toán cho học sinh Lớp 3

docx 13 trang Thanh Hà 24/02/2026 60
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực hứng thú học Toán cho học sinh Lớp 3", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxsang_kien_kinh_nghiem_doi_moi_phuong_phap_day_hoc_theo_huong.docx

Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực hứng thú học Toán cho học sinh Lớp 3

  1. SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỨNG THÚ HỌC TOÁN CHO HỌC SINH LỚP 3 PHÂN I. ĐẶT VẤN ĐỀ Trong chương trình giáo dục phổ thông, môn Toán có vai trò quan trọng cùng với các môn học khác đào tạo ra những con người phát triển toàn diện. Chương trình toán lớp 3 được coi là tiền đề, nền tảng góp phần thực hiện mục tiêu toán tiểu học. Học sinh lớp 3 là những học sinh đang ở giai đoạn đầu tiểu học. Ở lứa tuổi này, các em hiếu động, thích khám phá kiến thức mới nhưng cũng rất dễ bị phân tán, chóng chán nếu các em không hứng thú với việc học. Trong hoạt động học tập, hứng thú học tập là một yếu tố quan trọng thôi thúc học sinh chủ động lĩnh hội tri thức một cách nhanh hơn và sâu sắc hơn. Hứng thú học tập có vai trò to lớn trong việc nâng cao chất lượng học tập cho học sinh và sự phát triển nhân cách cho các em. Vậy làm thế nào để học sinh lớp 3 hứng thú với môn toán? Cũng như các thầy cô giáo khác, chúng tôi luôn trăn trở, tìm tòi, từng bước thực hiện việc đổi mới phương pháp giảng dạy Toán để làm cho những tiết học toán trở lên sinh động, hấp dẫn hơn; làm cho những con số tưởng chừng như khô khan, vô hồn trở lên có hồn. Và hơn hết là có thể giúp học sinh phát huy tính năng động, sáng tạo, phát triển phẩm chất và năng lực toán học cho các em. Để làm được điều đó thì trước hết cần tạo được hứng thú học tập cho học sinh. Chính vì lí do đó tôi đã mạnh dạn đưa ra Biện pháp: “ Đổi mới phương pháp dạy theo hướng phát triển năng lực tạo hứng thú học toán cho học sinh lớp 3.” 2. Mục đích nghiên cứu. - Giải pháp giải quyết vấn đề tạo hứng thú học tập môn toán cho học sinh lớp 3 để góp phần nâng cao chất lượng môn toán. 3. Phạm vi nghiên cứu: - Phạm vi: Nghiên cứu phương pháp trò chơi trong dạy học toán - Đối tượng: Học sinh lớp 3 4. Nhiệm vụ nghiên cứu. Tìm hiểu về thực trạng dạy học môn Toán cho học sinh lớp 3 Đề xuất một số biện pháp trong dạy học mà bản thân đã áp dụng và đã đạt được những kết quả tích cực nhất định. 1
  2. Tiếp tục áp dụng các biện pháp trong năm học 20... – 20... và cải thiện các biện pháp từ đó trình bày trong đề tài những biện pháp ưu việt nhất. 5. Phương pháp nghiên cứu. Ở đề tài này tôi đã thực hiện các phương pháp như sau: - Phương pháp nghiên cứu lý thuyết qua tài liệu. - Phương pháp quan sát thông qua: khảo sát, trao đổi vấn đáp, quan sát theo dõi biểu hiện qua quá trình học tập của học sinh... - Phương pháp phân tích, tổng hợp. 6. Điểm mới của vấn đề nghiên cứu. Đề tài đã được các đồng nghiệp khác nghiên cứu và áp dụng trước đó. Tuy nhiên, các giải pháp mới chỉ được khai thác ở một trong năm thành tố của quá trình dạy học. Đó là mục đích dạy học, nội dung dạy học, phương pháp và hình thức tổ chức, phương tiện và thiết bị dạy học, kiểm tra đánh giá kết quả học tập. Khác với các giải pháp trước đó, tôi đã tác động vào cả 5 thành tố của quá trình dạy học để tạo hứng thú học toán cho các em. Ngoài ra, tôi còn áp dụng giải pháp cho nhiều đối tượng học sinh của hai trường tiểu học trong cùng một huyện để có kết quả khách quan và tính ứng dụng cao. Đó cũng chính là tính mới của giái pháp so với các giải pháp tương tự mà tôi biết. PHẦN II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn 1.Cơ sở lý luận. Chương trình tổng thể Ban hành theo Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26/12/2018 nêu rõ “Giáo dục Toán học hình thành và phát triển cho học sinh những phẩm chất chủ yếu, năng lực chung và năng lực toán học với các thành tố cốt lõi: Năng lực tư duy và lập luận toán học, năng lực mô hình học toán học, năng lực giải quyết vấn đề toán học, năng lực giao tiếp toán học, năng lực sử dụng các công cụ và phương tiện học toán; phát triển kiến thức, kĩ năng then chốt và tạo cơ hội để học sinh được trải nghiệm, áp dụng toán học vào đời sống thực tiễn, giáo dục toán học tạo dựng sự kết nối giữa các ý tưởng toán học, giữa toán học với các môn học khác và giữa toán học với đời sống thực tiễn’’. Mỗi học sinh là một cá thể độc lập, có sự khác biệt về trình độ, năng lực, nhu cầu, sở thích và nền tảng xuất thân. Dạy học theo định hướng phát triển năng lực thừa nhận thực tế này và tìm ra được những cách tiếp cận phù hợp 2
  3. nhằm phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất với mỗi học sinh thay vì giáo dục chủ yếu trang bị kiến thức như ở mô hình dạy học truyền thống. Theo đó, dạy học theo hướng phát triển năng lực là mô hình dạy học hướng tới mục tiêu phát triển tối đa phẩm chất và năng lực của người học thông qua cách thức tổ chức các hoạt động học tập độc lập, tích cực, sáng tạo của học sinh dưới sự tổ chức, hướng dẫn và hỗ trợ hợp lý của giáo viên. Trong mô hình này, người học có thể thể hiện sự tiến bộ bằng cách chứng minh năng lực của mình. Điều đó có nghĩa là người học phải chứng minh mức độ nắm vững và làm chủ các kiến thức và kỹ năng (được gọi là năng lực); huy động tổng hợp mọi nguồn lực (kinh nghiệm, kiến thức, kĩ năng, hứng thú, niềm tin, ý chí,) trong một môn học hay bối cảnh nhất định, theo tốc độ của riêng mình. Đặc điểm quan trọng nhất của dạy học phát triển năng lực là đo được “năng lực” của học sinh hơn là thời gian học tập. Học sinh thể hiện sự tiến bộ bằng cách chứng minh năng lực của mình, điều đó có nghĩa là chúng phải chứng minh mức độ làm chủ/nắm vững kiến thức và kỹ năng (được gọi là năng lực) trong một môn học cụ thể, cho dù mất bao lâu. Để tạo hứng thú học Toán cho học sinh lớp 3 nói riêng và học sinh Tiểu học nói chung cần có sự đổi mới về phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực. Thế nào là đổi mới phương pháp dạy học? Đổi mới phương pháp dạy học thực chất không phải là thay thế các phương pháp dạy học cũ bằng một loạt các phương pháp dạy học mới. Về mặt bản chất, đổi mới phương pháp dạy học là đổi mới cách tiến hành các phương pháp, đổi mới các phương tiện và hình thức triển khai phương pháp trên cơ sở khai thác triệt để ưu điểm của phương pháp truyền thống và vận dụng linh hoạt một số phương pháp mới nhằm phát huy tối đa tính tích cực, chủ động sáng tạo của người học. Như vậy, mục đích cuối cùng của đổi mới phương pháp dạy học là làm thế nào học sinh phải thực sự tích cực, chủ động, tự giác, hào hứng và sôi nổi trong tiết học. Đổi mới phương pháp dạy học là để giúp học sinh phát triển năng lực, trí tuệ sáng tạo của riêng mình. Ngoài ra, còn giúp thực hiện những bước chuyển mình từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang việc tiếp cận năng lực của những người học. Đổi mới phương pháp dạy học giúp những giáo viên quan tâm đến học sinh nhiều hơn định hướng cho việc học của học sinh trở nên dễ dàng hơn. Đổi mới chính là để hoàn thiện hơn về nên giáo dục và đào tạo ngày nay, nó như một phương pháp căn bản và quan trọng nhất trong ngày nay. Trong giờ Toán, bên cạnh việc tìm và sáng tạo phương pháp giảng dạy phù hợp với yêu cầu bài học và đối tượng học sinh, chúng ta cần phải giúp các em có phương pháp lĩnh hội tri thức toán học, làm cho các em chủ hơn trong việc lĩnh hội tri thức toán học. Học sinh có phương pháp học toán phù hợp với 3
  4. từng dạng bài thì kết quả học Toán cũng sẽ cao, hiểu bài sâu. Điều đó kích thích tinh thần học tập ngày càng hăng say. Trong quá trình học toán ở Tiểu học, sử dụng trò chơi toán học tạo hứng thú học tập có nhiều tác dụng như: Giúp học sinh thay đổi loại hình hoạt động trong giờ học, làm cho giờ học bớt căng thẳng, tạo cảm giác thoải mái, dễ chịu. Học sinh tiếp thu kiến thức nhẹ nhàng, gây hứng thú học tập. Kích thích tìm tòi, tạo trí tưởng tượng, trí nhớ. Từ đó phát triển tư duy mềm dẻo... Ngoài ra thông qua hoat động trò chơi giúp các em phát triển được nhiều phẩm chất đạo đức như tình đoàn kết thân ái, lòng trung thực, tinh thần trách nhiệm. Vì vậy trò chơi toán học rất cần thiết trong giờ học toán. 1.2. Cơ sở thực tiễn 1.2.1. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu Môn Toán – Môn học từ xưa đến nay được xem là khô khan hóc búa, mang tính trừu tượng cao. Vì vậy, việc lĩnh hội tri thức Toán học là rất khó khăn đối với học sinh, nhất là học sinh lớp 3. Để lĩnh hội được tri thức Toán học thì học sinh cần phải biết so sánh, phân tích, tổng hợp, trừu tượng hoá và khái quát hoá mà chức năng trừu tượng hoá và khái quát hoá ở trẻ còn chưa phát triển đầy đủ. Vì tư duy học sinh lớp 3 chủ yếu là tư duy trực quan, các em thích tiếp xúc với vật thật hoặc thông qua những hành động cụ thể để dễ dàng hình thành khái niệm, kiến thức và kĩ năng. Muốn chất lượng môn Toán lớp 3 được nâng cao, nhất là năm học 20...- 20... là năm đầu tiên các em thay SGK mới, yếu tố đầu tiên và quan trọng nhất là học sinh phải yêu thích học Toán, phải có hứng thú học Toán thực sự. Bởi vậy đòi hỏi người giáo viên phải đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức dạy học trong đó vận dụng linh hoạt các trò chơi học tập Toán vào các tiết học là ưu tiên số 1 và là việc cần được làm ngay. Năm học 20... – 20..., tôi được nhà trường phân công giảng dạy lớp 3A với 39 học sinh. Sau 2 tuần nhận lớp, tôi phát phiếu thăm dò hứng thú học toán cho học sinh các lớp 3A, 3B, 3C của trường tôi và lớp 3A, 3B của một trường tiểu học B trong huyện. Tôi thu được kết quả như sau: Bảng 1: Bảng tổng hợp kết quả tham dò mức độ hứng thú học Toán Tên lớp Sĩ Rất thích Thích Bình thường Không thích số SL % SL % SL % SL % 3A 39 8 20,5 10 25,6 12 30,8 9 23,1 3B 35 7 20 8 22,9 11 31,4 9 25,7 3C 38 10 26,3 8 21,1 9 23,7 11 28,9 Dựa vào kết quả thăm dò hứng thú học toán của học sinh, tôi thực sự ngạc nhiên: chỉ có 42,9 % học sinh hứng thú với môn Toán, trong khi số học sinh không hứng thú, thậm chí là cảm thấy sợ học toán lên tới 25,7 % ( chiếm hơn ¼ số học sinh của lớp) 4
  5. Từ thực trạng trên, tôi tìm hiểu và rút ra một số ưu điểm và tồn tại sau: * Ưu điểm - Ngành giáo dục luôn có sự chỉ đạo cụ thể, sâu sát; Nhà trường luôn động viên, khích lệ, tạo điều kiện để giáo viên chúng tôi thực hiện đổi mới phương pháp dạy học. - Phòng học được trang bị đầy đủ cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học hiện đại cơ bản đáp ứng được yêu cầu đổi mới. - Học sinh có nền nếp, có ý thức học tập. Đa số phụ huynh đồng thuận, ủng hộ và luôn phối hợp với giáo viên trong quá trình giáo dục học sinh. Bên cạnh những thuận lợi, tôi cũng gặp không ít khó khăn: * Tồn tại - Hầu hết cha mẹ học sinh đều là công nhân, làm việc theo ca nên ít có thời gian để học tập và vui chơi cùng con. - Đa số học sinh lớp tôi là học sinh nông thôn nên các em nhút nhát, chưa mạnh dạn tham gia vào các hoạt động học tập. Nhiều học sinh làm toán một cách máy móc, thiếu sự tập trung trong giờ học; thậm chí có những em còn nằm gục xuống bàn. Khiến cho các tiết học toán trở lên căng thẳng, trầm lắng; kết quả học tập môn Toán của nhiều học sinh chưa cao. Nguyên nhân của thực trạng đó là do đâu? 1.2.2. Nguyên nhân của thực trạng - Một là, các em chưa có động cơ học tập đúng đắn - Hai là, giáo viên đôi lúc chưa linh hoạt khi vận dụng các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học trong các tiết học toán. - Ba là, việc ứng dụng công nghệ thông tin chưa đạt được hiệu quả mong muốn. - Bốn là, giáo viên chưa thực sự sáng tạo trong việc động viên, khích lệ học sinh. Vậy làm thế nào để khắc phục được những thực trạng trên? Câu hỏi đó khiến tôi luôn trăn trở, tìm tòi và mạnh dạn áp dụng Biện pháp: “Đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá học sinh tạo hứng thú học toán cho học sinh lớp”. 2. Biện pháp giải quyết vấn đề Biện pháp 1: Tạo động cơ học tập đúng đắn cho học sinh Động cơ học tập được hình thành từ những cảm xúc, nhu cầu học tập của học sinh. Học sinh có động cơ học tập đúng đắn sẽ kích thích, thúc đẩy tính tích cực, tự giác chiếm lĩnh kiến thức. Đối với học sinh lớp 3 thì động cơ học tập chưa có sẵn. Đa số các em đều chưa ý thức được mục đích của việc học toán vì thế trong quá trình học tập và rèn luyện, giáo viên là người dẫn dắt hình thành động cơ học toán cho các em. Theo quan sát của mình, tôi thấy có 2 nguyên nhân khiến các em chưa có động cơ học tập môn Toán: Một là các em thực sự không thấy môn Toán thú vị với mình hoặc không thấy ý nghĩa thực sự của việc học toán ngoại trừ việc vượt qua các bài kiểm tra bắt buộc. Hai là, các em có mong muốn học, có thấy được giá tri, thấy được ý nghĩa của việc học toán nhưng do mất gốc, không theo được 5
  6. chương trình nên các em tự ti, thiếu kiên trì. Đặc điểm chung của học sinh không có động cơ học toán là những học sinh học chưa tốt môn Toán. Để tạo ra được động cơ học toán cho học sinh, trước hết tôi đã giúp học sinh thấy được ứng dụng quan trọng, hữu ích của toán trong cuộc sống hàng ngày. Bởi vậy, ngay đầu năm học, tôi cho các em tìm hiểu mục lục sách giáo khoa toán lớp 3. Sau đó, tôi giới thiệu về những nội dung chính trong chương trình toán lớp 3 để kích thích sự tò mò, khám phá của các em. Ví dụ: Tôi giới thiệu về ứng dụng kì diệu và ý nghĩa của phép tính nhân, chia trong cuộc sống. Hoặc khi giới thiệu về phần hình học, tôi cho các em tìm những đồ vật có dạng hình vuông, hình tròn, hình chữ nhật, hình tam giác mà các em biết. Hoạt động này giúp các em thấy toán học thật gần gũi với cuộc sống. Tôi giới thiệu thêm: Ở lớp dưới, chúng mình đã biết nhận diện và gọi tên các hình đó. Chương trình Toán 3 sẽ giúp chúng mình khám phá thêm những đặc điểm thú vị của chúng. Đặc biệt là các em sẽ biết tính chu vi, diện tích của các hình đó. Những đặc điểm thú vị đó đang chờ chúng mình khám phá đấy. Qua những lời giới thiệu ấy, tôi thấy rõ sự tò mò, sự hào hứng hiện lên trong ánh mắt của các em. Việc tạo động cơ học tập cho học sinh không chỉ dừng lại ở đó mà trong mỗi tiết học toán, tôi còn thiết kế thêm một số bài tập , tình huống liên quan đến thực tế. Ví dụ: Khi học “Tìm một phần bằng nhau của một số” ( SGK Toán 3- T26) ở phần khởi động thay vì cho học sinh hát hay chơi 1trò chơi vận động thì tôi tạo động cơ học tập bằng 1tình huống thực tế về số học sinh nam và nữ của lớp tôi. Tôi đưa ra bài toán: Mẹ có 30 quả trứng, mẹ biết bà 1/3 số trứng đó. Hỏi mẹ còn lại bao nhiêu quả trứng? Sau đó, tôi dẫn dắt học sinh vào bài mới bằng câu hỏi gợi mở: thế nào là 1/3? Muốn tìm giá trị của 1 phần của một số ta làm thế nào? Để giải các bài toán về tìm một trong các phần bằng nhau của một số chúng ta sẽ làm như thế nào? Cô mời các em cùng tìm hiểu bài “Tìm một trong các phần bằng nhau của một số”. Ngoài ra, tôi luôn luôn tìm ra cách giới thiệu để tạo hứng thú cho các em mỗi khi bắt đầu 1 bài học mới. Bên cạnh đó, tôi thận trọng trong việc giao các nhiệm vụ học tập cho các em ở trên lớp và ở nhà để đảm bảo các em có đủ thời gian hoàn thành bài tập được giao (Chia các nhỏ các nhiệm vụ học tập để các em dễ dàng giải quyết) Từ những việc làm cụ thể và tỉ mỉ đó, tôi đã giúp học sinh dần hình thành động cơ học tập đúng đắn. Các em đã tích cực, chủ động hơn trong việc chiếm lĩnh kiến thức. Đây không chỉ là 1 việc làm thiết thực để tạo hứng thú học toán mà còn có giá trị gắn kết toán học với cuộc sống và mang cuộc sống vào trong toán học. Bên cạnh việc tạo động cơ học tập đúng đắn cho học sinh thì nội dung thứ hai tôi hướng tới đó là: Biện pháp 2: Kết hợp đa dạng, linh hoạt các phương pháp dạy học Kết hợp đa dạng các phương pháp dạy học trong toàn bộ quá trình dạy học là phương hướng quan trọng để phát huy tính tích cực và nâng cao chất 6
  7. lượng dạy học. Trong quá trình dạy Toán tôi đã kết hợp linh hoạt các phương pháp dạy học như: * Phương pháp trực quan: Là một phương pháp dạy học toán mà ở đó người giáo viên làm cho HS năm được tri thức kĩ năng của môn toán dựa trên các hoạt động quan sát trực tiếp của trẻ đối với các hiện tượng, các sự vật cụ thể có ở đời sống xung quanh trẻ. Khi sử dụng phương pháp trực quan cần lưu ý đồ dùng trực quan phải đẹp, sặc sỡ, rực rỡ, phải phong phú đa dạng. * Phương pháp gợi mở - vấn đáp là một phương pháp dạy học toán mà ở đó người giáo viên không đưa ra kiến thức trực tiếp mà giáo viên dùng hệ thống câu hỏi cho HS suy nghĩ trả lời từng câu. Ví dụ : Tìm x, biết: 356 + x = 1 356 GV hỏi: - x là thành phần nào trong phép tính đã cho? - Nêu cách tìm số hạng chưa biêt? Bằng hệ thống câu hỏi gợi mở - vấn đáp giáo viên sẽ dẫn dắt học sinh tìm ra hướng làm. Sau khi học sinh tìm ra kết quả, tôi tiếp tục sử dụng phương pháp này để học sinh giải thích kết quả của mình. * Phương pháp dạy học đặt và giải quyết vấn đề: Dạy học đặt và giải quyết vấn đề là một phương pháp dạy học toán mà ở đó người GV tạo ra các tình huống có vấn đề, rồi điều khiển học sinh tự phát hiện vấn đề hoạt động tự giác và tích cực để giải quyết vấn đề thông qua đó đạt được mục tiêu học. * Phương pháp luyện tập thực hành: Là phương pháp dạy học toán mà ở đó người GV tổ chức cho HS giải quyết các nhiệm vụ hay các bài tập để tự HS khắc sâu kiến thức đã học hoặc phát triển kiến thức đó trở thành kiến thức mới hoặc vận dụng kiến thức đó làm tính giải toán và áp dụng thực tế. Biện pháp 3: Vận dụng phù hợp các trò chơi học tập môn toán Trò chơi học tập là trò chơi gắn liền với các hoạt động học tập và nội dung bài học giúp học sinh khai thác kinh nghiệm vốn có của bản thân để chơi và để học. Trong quá trình chơi trò chơi các em sẽ bộc lộ nhiều cảm xúc rất rõ ràng như: niềm vui khi thắng và buồn bã khi thua; vui mừng khi đồng đội hoàn thành nhiệm vụ, bản thân cảm thấy có lỗi khi không làm tốt nhiệm vụ của mình. Vì tập thể mà cố gắng hết khả năng để mang lại chiến thắng cho tổ, nhóm của mình. Đây cũng chính là đặc tính thi đua rất cao của trò chơi học tập. Đặc biệt, đối với môn toán thì trò chơi học tập càng có ý nghĩa quan trọng hơn trong việc tạo hứng thú học toán cho học sinh. Trong thực tế dạy học, giáo viên thường tổ chức trò chơi học tập để củng cố kiến thức, kỹ năng toán. Tuy nhiên việc tổ chức cho học sinh chơi các trò chơi để hình thành kiến thức, kỹ năng mới là rất cần để tạo hứng thú học tập cho học sinh ngay từ khi bắt đầu bài học mới. Trong quá trình dạy học toán, tôi dựa theo nội dung của từng bài, từng mạch kiến thức và điều kiện thời gian trong mỗi tiết học để thiết kế trò chơi sao cho phù hợp. Trò chơi học tập có thể tổ chức ở cả 4 bước lên lớp. Đối với mỗi trò chơi, tôi đều thiết kế chu đáo theo quy trình sau: 7
  8. Bước 1: Giới thiệu tên trò chơi, mục đích của trò chơi Bước 2: Hướng dẫn học sinh chơi trò chơi. Ở bước này giáo viên cần làm những việc sau: + Chia đội chơi, quy định số thành viên mỗi đội chơi, cử trọng tài, thư kí,... + Chuẩn bị đồ dùng, dụng cụ để chơi ( giấy khổ to, thẻ từ, quân bài, cờ,...) + Giới thiệu cách chơi: quy định thời gian chơi, những điều người chơi không được làm, cách tính điểm,... + Chơi thử ( nếu cần) Bước 3: Tổ chức cho học sinh chơi trò chơi Bước 4: Nhận xét, đánh giá kết quả trò chơi Để trò chơi mang lại hiệu quả cao thì khi thiết kế và tổ chức trò chơi trong giờ học toán cần lưu ý: - Lựa chọn trò chơi mang ý nghĩa giáo dục - Thời gian chơi mỗi trò chơi từ 5 – 7 phút - Trong mỗi tiết học không nên lạm dụng tổ chức nhiều trò chơi - Hình thức trò chơi đa dạng, phong phú. Khi tổ chức trò chơi giáo viên có thể lồng ghép vào trò chơi các nhân vật hoạt hình, các câu chuyện cổ tích quen thuộc mà trẻ yêu thích để làm cho trò chơi thêm hấp dẫn. Ví dụ: Khi dạy bài bảng nhân 6 ( SGK Toán 3- trang19), tôi tổ chức cho học sinh chơi trò chơi “ Giải cứu Bạch Tuyết” như sau: Tên trò chơi: Giải cứu Bạch Tuyết Mục đích - Rèn luyện kĩ năng thực hiện các phép tính nhân trong bảng 6 - Rèn kĩ năng phản xạ nhanh cho học sinh Chuẩn bị: Giáo viên thiết kế trò chơi trên powerPoint gồm 1 bức tranh có hình nàng Bạch Tuyết và 4 ô cửa bí mật. Các ô cửa có chứa đề bài như sau: - Ô cửa 1: 6 x 5 = ? - Ô cửa 2: 6 x 9 = ? - Ô cửa 3: Thừa số thứ nhất là 6, thừa số thứ hai là 8. Tích 2 số đó là bao nhiêu? - Ô cửa 4: Tìm x: x : 6 = 5 Cách chơi - Trò chơi này, tôi tổ chức cho cả lớp cùng tham gia. Học sinh nào giơ tay nhanh sẽ được quyền trả lời. - Giới thiệu trò chơi như sau: Các em ạ! Mụ phù thủy độc ác nham hiểm đã nhốt nàng Bạch Tuyết ở một nơi bí mật. Để giải cứu được nàng Bạch Tuyết chúng mình phải hành trình mở lần lượt 4 ô cửa bí mật này. Mỗi ô cửa đều có chứa 1 phép tính hoặc 1 bài toán. Sau khi mở được 4 ô cửa nàng Bạch Tuyết sẽ được giải cứu. Các em có muốn giúp nàng Bạch Tuyết không nào? Trò chơi học tập được sử dụng như một phương pháp tổ chức cho học sinh khám phá và chiếm lĩnh nội dung học tập hoặc thực hành, luyện tập một kĩ năng nào đó trong chương trình môn học. Đây là một phương pháp có tác dụng hòa đồng sâu rộng và thu hút mức độ tập trung của học sinh mà ít có phương pháp nào sánh kịp. 8
  9. Biện pháp 4: Đổi mới hình thức tổ chức dạy học. Đặc trưng của hình thức dạy học môn Toán là dạy học trong lớp theo thời gian quy định, theo nội dung có sẵn trong sách giáo khoa. Khi sử dụng hình thức dạy học này tạo ra sự nặng nề đơn điệu, hạn chế sự nhận thức tiếp thu kiến thức của học sinh. Để khắc phục hạn chế đó, tôi đã mạnh dạn thực hiện một số hình thức dạy học môn Toán lớp 3 như sau: a) Học trong lớp : Tuỳ theo nội dung và điều kiện học tập, giáo viên có thể tiến hành dạy học ở trong lớp hoặc ngoài hiện trường. Có 3 cách tổ chức sau đây: Một là, học cá nhân: Tổ chức cho học sinh học cá nhân sẽ tạo điều kiện phát huy tối đa năng lực học sinh trong học toán. Viêc học cá nhân chỉ đạt hiệu quả khi mỗi học sinh thực sự làm việc theo gợi ý hướng dẫn của giáo viên trên phiếu học tập. Giáo viên có thể trực tiếp kiểm tra từng em, giúp từng cá nhân thực hiện nhiệm vụ . Hai là, học nhóm Học nhóm sẽ tạo không khí hợp tác học tập, học tập có tổ chức, có trách nhiệm giữa các thành viên trong một nhóm học sinh. Khi học nhóm mỗi học sinh phải phát biểu ý kiến của mình, phải thực hiện nhiệm vụ cụ thể để hoàn thành nhiệm vụ chung của nhóm. Tuỳ nội dung của từng bài mà giáo viên quyết định đến số học sinh ở mỗi nhóm. Khi cử nhóm trưởng và thư ký nên luân phiên để em nào cũng có cơ hội tập điều hành công việc trong nhóm. Điều quan trọng khi tổ chức học nhóm là nhiệm vụ của mỗi nhóm phải rõ ràng cụ thể. Trong khi học sinh làm việc, giáo viên theo dõi giúp đỡ các em. Ba là, học toàn lớp. Khi học toàn lớp giáo viên tổ chức cho các em cùng trao đổi ý kiến, tổ chức hướng dẫn để cùng học sinh tham gia giải quyết một bài toán, cách trình bày một lời giải, cùng đặt vấn đề mới nảy sinh ( dưới dạng câu hỏi ) trong quá trình học tập. Khi giáo viên nói nên ngắn gọn, rõ ràng, đủ thông tin với tốc độ vừa phải. Khi sủ dụng đồ dùng dạy học ( hình ảnh, sơ đồ, mẫu vật ) phải thường xuyên gợi ý để thu thập các thông tin ngược từ học sinh để điều chỉnh. b) Học ngoài lớp: Dạy ngoài hiện trường giúp học sinh quan sát được trực tiếp, mắt thấy tai nghe một số đối tượng học tập rất sinh động mà không có loại đồ dùng dạy học nào hoặc lời miêu tả củaâối viên có thể so sánh được về mặt trực quan. Học sinh có thể được thực hiện hàng ngày trên thực tế, môi trường học 9
  10. tập thay đổi giúp cho học sinh có nhận thức nhanh và ghi nhớ sâu hơn, ví dụ ở các bài: Đo độ dài, tỉ lệ xích, tính chu vi diện tích các hình. c) Sử dụng phiếu học tập: Phiếu học tập là một trong những công cụ cho phép cá thể hoá hoạt động học tập của học sinh trong học Toán, tiết kiệm thời gian trong việc tổ chức các hoạt động học tập đồng thời là công cụ hữu ích trong việc thu thập và xử lý thông tin ngược. Phiếu học tập được nhiều ở tất cả các bài, các mạch kiến thức. Khi soạn thảo và sử dụng phiếu học tập cần lưu ý : Phiếu học tập một mặt phải cung cấp được những kiến thức, kỹ năng cơ bản, trọng tâm được quy định trong chương trình và sách giáo khoa, trong đó xác định những thành tố đơn vị và trật tự thực hiện chúng mặt khác phải đảm bảo cả việc kiểm tra được kiến thức kỹ năng đó. Phiếu học tập cần vừa sức với số đông học sinh nhưng cũng phải đảm bảo kích hích được những hoạt động tìm tòi mang đặc tính của dạng hoạt động biến đổi, sáng tạo. Các yêu cầu nêu trong phíếu học tập phải được diễn đạt một cách chặt chẽ, rõ ràng, dễ hiểu chính xác. 5. Về khả năng áp dụng của Biện pháp Biện pháp “ Đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá học sinh tạo hứng thú học toán cho học sinh lớp 3” đã được tôi áp dụng trong dạy học môn toán cho học sinh lớp 3. Qua quá trình nghiên cứu và thực tế áp dụng, tôi thấy đây là một Biện pháp phù hợp với định hướng đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực học sinh tiểu học. Các Biện pháp phù hợp với mọi đối tượng học sinh và có thể áp dụng để tạo hứng thú học toán cho học sinh các khối lớp trong bậc tiểu học. Bản thân tôi đánh giá những Biện pháp không cần tốn quá nhiều chi phí đầu tư, việc thực hiện chủ yếu thông qua sự chủ động của giáo viên và học sinh nên tôi tin tưởng đạt được hiệu quả cao khi áp dụng ở bất cứ trường học trên địa bàn nào. 3. Kết quả đạt được * Đối với GV - Tôi đã có thêm kinh nghiệm tạo hứng thú học toán cho học sinh nhằm nâng cao chất lượng học toán. - Các tiết học toán của lớp tôi diễn ra nhẹ nhàng, sôi nổi, hấp dẫn góp phần xây dựng lên những giờ học hạnh phúc. - Nhận được sự tin tưởng và ủng hộ cao của phụ huynh. * Đối với HS 10
  11. - 94,3 % học sinh hứng thú với môn Toán. Đặc biệt, tỉ lệ học sinh rất thích học toán tăng lên 40 %, tỉ lệ học sinh thích học toán tăng 11,4 %, và quan trọng hơn cả là tỉ lệ học sinh không hứng thú với môn toán là 0%. - Nhiều em mạnh dạn, tự tin, tích cực tham gia vào các hoạt động và hoàn thành bài tập với độ chính xác cao. - Chất lượng học tập môn toán cuối học kì I được nâng lên rõ rệt: Xếp loại T: 23 em ( chiếm 65,7%) H: 12 em ( 34,3 %), C: 0 em Nhìn vào những kết quả đạt được, tôi nghĩ mình đã tìm được hướng đi đúng, cách làm phù hợp để tạo hứng thú học toán cũng như góp phần nâng caochất lượng dạy - học môn Toán cho học sinh lớp 3. Sau hơn một học kì, tôi cùng đồng nghiệp áp dụng Biện pháp vào quá trình dạy toán cho học sinh lớp 3A, 3B của trường tôi, chúng tôi thu được kết quả như sau: Tên lớp Sĩ Rất thích Thích Bình thường Không thích số SL % SL % SL % SL % 3A 39 25 51,3 12 35,9 2 10,3 0 2,5 3B 35 23 48,6 10 34,3 2 14,3 0 2,8 Đối với lớp 3A của trương tiểu học B Tên lớp Sĩ Rất thích Thích Bình thường Không thích số SL % SL % SL % SL % 3A 36 22 50 11 33,3 3 13,9 0 2,8 Nhìn vào bảng số liệu và thực trạng học toán của học sinh lớp, tôi nghĩ mình đã tìm được hướng đi đúng, cách làm phù hợp để tạo hứng thú học toán cũng như góp phần nâng caochất lượng dạy - học môn toán cho học sinh. - Sau hơn 1 học kì tôi cùng đồng nghiệp áp dụng các Biện pháp thì tỉ lệ học sinh hứng thú với môn toán đạt 85 %, số học sinh không hứng thú chỉ còn khoảng 5%. - Các em có ý thức tự giác tham gia các hoạt động và hoàn thành bài tập với độ chính xác cao. - Đa số các em đều rất tự tin, lớp học sôi nổi. - Chất lượng học tập môn toán cuối học kì I được nâng lên rõ rệt: Xếp loại T: 26 em, H: 13 em, C: 0 em PHẦN III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 1. Kết luận Giáo dục Tiểu học đang thực hiện đổi mới toàn diện và đồng bộ để góp phần chuẩn bị học vấn, cơ sở và khả năng thích ứng chủ động sáng tạo cho những gười lao động trong điều kiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Việt Nam đầu thế kỷ XXI. 11
  12. Các biện pháp thực hiện đổi mới phương pháp dạy học môn Toán cần được tiếp tục tiến hành đồng bộ, lâu dài. Giáo viên phải kiên trì, sáng suốt trong lựa chọn tìm ra hướng đi phù hợp và có hiệu quả để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về công tác giáo dục trong thời đại hiện nay. Có thể nói rằng việc đổi mới phương pháp dạy học Toán 3 ở trường Tiểu học đã được quan tâm chỉ đạo phát huy được tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh. Học sinh hứng thú, tự giác học tập hơn, bước đầu biến quá trình học của học sinh thành quá trình tự học, góp phần nâng cao chất lượng môn toán nói riêng và chất lượng giáo dục nói chung. Kiến nghị Theo ý kiến chủ quan của riêng tôi, để áp dụng hiệu quả Biện pháp ““Đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá học sinh tạo hứng thú học toán cho học sinh lớp 3” vào dạy học môn toán tôi đưa ra kiến nghi sau: - Về giáo viên + Tìm hiểu và hiểu rõ nguyên nhân vì sao học sinh chưa hứng thú với môn học để đưa ra những Biện pháp phù hợp với đối tượng học sinh lớp mình giảng dạy. + Chuẩn bị kĩ bài trước khi đến lớp, nắm chắc kiến thức, kĩ năng của môn học và dự kiến được những tình huống sư phạm có thể xảy ra trong tiết toán. + GV phải nắm được xu hướng đổi mới của giáo dục để điều chỉnh Biện pháp cho phù hợp. + Khi vận dụng các Biện pháp cần linh hoạt, vừa sức với học sinh. + Động viên khen thưởng kịp thời để gây hứng thú học tập cho học sinh. - Về nhà trường: + Tạo điều kiện về cơ sở vật chất, các phương tiện, thiết bị dạy học cho học sinh như: máy chiếu, tranh ảnh, bộ đồ dùng học toán,.. + Tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên môn, tổ chức cho giáo viên đi học tập kinh nghiệm ở trường bạn. 12